Thứ Hai, 11 tháng 7, 2016

TÀUCỘNG HỢP PHÁP HOÁ QUYỀN BÁ CHỦ TÂY THÁI BÌNH DƯƠNG ĐƯỢC KHÔNG?

TÀUCỘNG HỢP PHÁP HOÁ QUYỀN BÁ CHỦ TÂY THÁI BÌNH DƯƠNG ĐƯỢC KHÔNG?
Dr. Tristan Nguyễn



Một khi Hải Quân Tàu Cộng gây trở ngại tự do giao thông hàng hải thì cái lực lượng hải quân này trở thành một bọn Cướp Biển Á Châu mà không có một nước tự do nào trên thế giới sẽ chấp nhận bọn chúng.

Antonio Martins đã trình bày một Lá cờ Đen-Năm Sọ Người-Xương Chéo để mô tả Đảng Tàu Cộng là một đảng Cướp Cạn tàn sát Nhân Dân Hoa Lục đã cướp đi Sinh Mạng, Tự Do, Dân Chủ của người dân trong cuộc thảm sát Thiên An Môn, và cũng là một đảng Cướp Biển Á Châu đã đang ngông cuồng điên rồ muốn chiếm trọn Biển Đông trong phạm vi Chuỗi Hải Đảo Thứ Nhất và có ý dòm ngó thèm muốn các vùng biển thuộc Đảo Guam của Mỹ, kể cả các vùng biển ở phiá bắc Úc Châu trong chiến lược Chuỗi Hải Đảo Thứ Nhì của Tàu Cộng. (Dr. Tristan Nguyễn)


Một cách ngang ngược không kể gì tới luật pháp quốc tế những người cầm quyền Tàu-Cộng đã và đang chủ trương lấn chiếm trái phép những vùng-đất vùng-trời vùng biển với các hải đảo hoang và các bãi đá ngầm ngoài khơi ở Biển Đông còn gọi là Biển Hoa Nam. Tàu-Cộng đã đang có thể o ép lấn lướt khống chế các nước láng giềng nhỏ trong khu vực; tuy nhiên, Tàu-Cộng có thể hợp-pháp-hoá cái quyền Bá-Chủ Tây-Thái-Bình-Dương của Tàu-Cộng được không, hay Tàu-Cộng chỉ có thể thực hiện cái loại bá-quyền này cũng không hơn gì cái quyền của chế độ độc đảng độc tài ở Hoa Lục được kéo dài thêm một thời gian bao lâu nữa?

Cho dù các số liệu thống kê kinh tế tài chính của Tàu Cộng không đáng tin cậy vì hệ thống sổ sách kế toán không minh bạch, và bị nghi ngờ rằng những con số hạch toán kinh tế tài chính đã “bị xào nấu thêm bớt gia vị” cho thích hợp với yêu cầu phát triển Hoa Lục; những con số này đã được biết như là cơ sở để tính toán xác định tổng sản lượng quốc gia (GDP) của Tàu Cộng lớn vào hàng thứ nhì trên thế giới. Cứ theo cái đà phát triển như vậy thì mười năm sau tổng sản lượng quốc gia (GDP) của Tàu Cộng sẽ vượt qua tổng sản lượng quốc gia (GDP) của Mỹ để trở thành một nước có tổng sản lượng lớn nhất thế giới. 

Hơn nữa Đảng Tàu Cộng đang cai trị một nước có dân số đông nhất, ngày nay trên thế giới cứ bảy người là có một người công dân Hoa Lục. Cũng chính vì dân số quá đông như vậy nên Mao Trạch Đông đã không ngần ngại muốn cho chết bớt chừng 500 triệu người Hoa Lục để có thể chiếm quyền bá chủ toàn cầu khi Tàu Cộng gây ra một cuộc thế chiến tiêu diệt các nước tự do dân chủ Tây Phương và Mỹ! 

Khi người ta xem xét chi tiêu quốc phòng của Tàu Cộng thì thấy nó là một bí mật, nhưng người ta cũng ước lượng một cách không chính xác là Tàu Cộng chi tiêu quốc phòng nhiều vào hạng thứ nhì sau Mỹ. Mục đích chi tiêu quốc phòng của Tàu Cộng là hiện đại hoá quân đội, nhất là gia tăng xây dựng nhanh một lực lượng hải quân có khả năng hoạt động xa trong những vùng biển sâu nước xanh (Hải Quân Nước Xanh/Blue-Water Navy) có cả những chiếc tàu sân bay, những chiếc tàu ngầm nguyên tử có khả năng tấn công bằng tên lửa và phi đội máy bay vũ trang không người lái, Tàu Cộng thực sự muốn chiếm trọn quyền hoạt động kiểm soát cả khu vực biển đuợc đánh dấu bởi một Chuỗi Hải Đảo Thứ Nhất (First Island Chain) bắt đầu từ phía nam nước Nhật kéo xuống đảo Đài Loan và nước Phi Luật Tân để bao gồm hầu hết Biển Đông còn gọi là Biển Hoa Nam.

Để thực hiện đạt được mục đích như vậy Hải Quân Tàu Cộng phải bắt buộc loại trừ lực lượng Hải Quân Mỹ đã đang có mặt hoạt động từ năm 1955 tới nay trong khu vực biển này. Với một quá trình kinh nghiệm hoạt động 60 năm trong khu vực Tây Thái Bình Dương bao gồm Biển Đông còn gọi là Biển Hoa Nam ở Đông Nam Á của Hải Quân Mỹ chưa bao giờ đối đầu với một thách thức quân sự lớn hơn những hành động bành trướng lãnh hải của Tàu Cộng ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á như tình hình hiện nay.

Người ta đã nhận thấy rõ ràng tham vọng ngông cuồng của Tàu Cộng muốn xây dựng nhanh một lực lượng Hải-Quân-Nước-Xanh/Blue-Water-Navy đủ mạnh cho tới năm 2020 để hoạt động hoàn toàn kiểm soát khống chế hai khu vực Biển Hoa Đông và Biển Hoa Nam trong phạm vi Chuỗi Hải Đảo Thứ Nhất; rồi cho tới năm 2030 đủ mạnh để mở rộng hoạt động kiểm soát những vùng biển trong phạm vi Chuỗi Hải Đảo Thứ Nhì (Second Island Chain) bao gồm cả Đảo Guam của Mỹ và cắt ngang các nhóm hải đảo của nước Nam Dương và kéo xuống tận vùng biển phía bắc Úc Châu! 

Trong khi quan tâm xem xét sự phát triển của Hoa Lục dưới sự cai trị của Đảng Tàu Cộng được đánh dấu kể từ ngày TT Nixon viếng thăm Bắc Kinh, thì bên cạnh những khu vực được đô thị hoá là những thành phố ma không người ở, bên cạnh những vùng khai thác quặng mõ, xí nghiệp kỷ nghệ nặng là sự ô nhiễm môi sinh rất trầm trọng, v.v…; tính cách mất cân đối trong sự phát triển của Hoa Lục kể ra còn nhiều, nhưng có một tính cách mất cân đối còn trầm trọng và nguy hiểm hơn nhiều là trong sự phát triển Quân-Đội-Của-Đảng-Tàu-Cộng, (ở đây cần nhấn mạnh là Quân Đội Của Đảng Tàu Cộng vì thông thường một quân đội chỉ tuyên thệ trung thành phục vụ tổ quốc bảo vệ nhân dân chứ không trung thành phục vụ bảo vệ một đảng chính trị như Đảng Tàu Cộng.

Khi gọi là Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc thì Đảng Tàu Cộng đã mạo xưng lợi dụng danh nghĩa người dân Hoa Lục.) quân đội đã trở thành một băng cướp tài sản của Nhân Dân Hoa Lục khi tham nhũng trong quân đội xảy ra ở mọi cấp bậc, và Hải Quân Tàu Cộng đã đang trở thành một bọn Cướp Biển ở khu vực Tây Thái Bình Dương bao gồm cả hai Chuỗi Hải Đảo Thứ Nhất và Chuỗi Hải Đảo Thứ Nhì. Nhân Dân Mỹ đã xác định Tàu Cộng là một bọn Cướp Cạn ở trên đất liền khi đã lấn chiếm sáp nhập những vùng đất của các nước láng giềng nhỏ sức yếu, hơn nữa Tàu Cộng cũng còn là một bọn Cướp Biển khi lấn chiếm trái phép các vùng biển, nhất là khi Tàu Cộng ngông cuồng điên rồ dòm ngó thèm muốn vùng biển thuộc Đảo Guam của Mỹ, và cả vùng biển phía bắc Úc Châu!

Lịch sử cho thấy nước Mỹ đã trở thành một siêu cường quốc trên thế giới bắt đầu vào những năm 1880 và kéo dài tới nay. Trong suốt thời gian dài này nước Mỹ đã và đang phải đối phó với bốn kẻ thù chính rất nguy hiểm là (1) Chủ Nghĩa Quốc Gia Cực Đoan Dân Tộc Đức trong Thế Chiến I, (2) Chủ Nghĩa Phác-Xíc trong Thế Chiến II, (3) Chủ Nghĩa Cộng Sản trong Chiến Tranh Lạnh, và (4) Chủ Nghĩa Khủng Bố của Hồi Giáo Quá Khích (Millenarian Jihadism) trong Chiến Tranh Chống Khủng Bố. Khi xem xét tương quan lực lượng giữa nước Mỹ và những Kẻ Thù thì người ta nhận thấy Liên Bang Sô Viết của Stalin đã có thể so sánh ngang tầm với nước Mỹ, Đức Quốc Xã của Hitler và Al Qada của Bin Laden cũng có thể xem là khủng khiếp tàn ác nhất, nhưng cuối cùng cũng bị tiêu diệt.

Tuy nhiên, Hoa Lục dưới sự cai trị của Đảng Tàu Cộng hiện nay có tổ chức chặt chẽ hơn, tốt hơn Liên Sô trước kia, trong khi Liên Sô đã bị cô lập kinh tế, không có quan hệ thương mại gì với các nước Tây Phương, thì Hoa Lục hiện nay được gia nhập vào thị trường thế giới với một tổng sản lượng quốc gia lớn hơn các nước Đức, Nhật, và một số nước Hồi Giáo giàu. Với tình hình Hoa Lục đã đang phát triển rất nhanh và có khả năng theo kịp nước Mỹ trên mọi bình diện, thì nước Mỹ trong thời gian này và trong tương lai gần phải đối phó với một Kẻ Thù mạnh mẽ, quyết liệt nhất từ trước tới nay là Tàu Cộng vì Kẻ Thù này có một tham vọng điên cuồng hết sức nguy hiểm là phải chiếm đoạt cho được các nguồn tài nguyên thế giới để thoả mãn nhu cầu phát triển nhanh! Và đây cũng là một nguyên nhân sâu xa của Tàu Cộng đã thực hiện chính sách Thực Dân Mới để khai thác tài nguyên ở các nước Phi Châu và Việt Nam!

Những người cầm quyền Đảng Tàu Cộng đã biết lợi dụng tình thế nắm bắt cơ hội kịp thời thực hiện quyền bá chủ trong khu vực Đông Nam Á khi có sự tiếp sức kín đáo của Đảng Việt Cộng đang cai trị nước Việt Nam. Với cái vẻ bề ngoài phản đối Tàu Cộng cho hợp lẽ phải để xoa dịu sự căm giận của người dân Việt Nam, những người cầm quyền Đảng Việt Cộng đã rõ ràng là một bọn tay sai phải làm theo ý muốn của người chủ Tàu Cộng Thực Dân Mới. Trong lúc nước Mỹ phải bận rộn vì hai cuộc chiến tranh chống khủng bố ở Iraq và Afghanistan, nước Ấn Độ thì do dự chưa quyết định dứt khoát là có muốn ngăn chặn sự bành trướng của Tàu Cộng từ vùng biển Đông Nam Á sang vùng biển Nam Á hay không, còn nước Pakistan chưa từng nghi ngờ gì về ý đồ bá quyền của Tàu Cộng trong những dự án do chủ thầu Hoa Lục xây dựng bến cảng trên lãnh thổ của Pakistan.

Người ta đã thắc mắc rằng Tàu Cộng phải muốn cái gì khi có ý định khống chế các vùng biển Đông Nam Á và Nam Á và các trục hải lộ quốc tế đi ngang qua eo biển Singapore. Người ta cũng nhận thấy rõ ràng là các nước Đông Nam Á đã đang bị Tàu Cộng o ép, lấn lướt trong hai lãnh vực ngoại giao và kinh thương khiến cho họ phải chịu “cuốn theo chiều gió mậu dịch” của mức tăng trưởng Hoa Lục; vì vậy mà các nước Đông Nam Á đã không thể giữ được thế đứng thăng bằng vững chắc để chống lại chủ nghĩa bành trướng bá quyền của Tàu Cộng. 

Hơn nữa tính cách nguy hiểm của chủ nghĩa bành trướng bá quyền của Tàu Cộng lại dễ dàng gia tăng khi ở trong tổ chức Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á (ASEAN) lại có ba nước Việt-Miên-Lào bị cai trị bởi ba đảng cộng sản đàn em của Đảng Tàu Cộng, cho dù được nguỵ trang khéo léo che đậy kín đáo thế nào người ta cũng nhận ra cả bọn tay sai của Tàu Cộng.   

Vào những ngày 23-29/4/2014 trong chuyến công du bốn nước Nam Hàn, Nhật Bản, Phi Luật Tân, và Mã Lai Á TT Obama đã xác định quyết tâm của nước Mỹ để làm an tâm các nước đồng minh này về việc thực hiện Chủ Thuyết Xoay Trục Á Châu, và cho tới tháng 8/2014 vừa qua các quan chức chỉ huy quân đội Mỹ cũng đã khẳng định rằng Xoay Trục Á Châu vẫn đang được thi hành một cách vững chắc tại khu vực Tây Thái Bình Dương bao gồm Đông Á và Đông Nam Á cho dù các lực lượng chiến đấu của quân đội Mỹ phải bố trí rộng khắp ở khối NATO để đối phó với cuộc khủng hoảng của nước Ukraine, ở các vùng biển Bắc Đại Tây Dương, cũng như ở các vùng biển Trung Đông, và với một ngân sách liên bang bị cắt giảm nhưng chi tiêu quốc phòng Mỹ đã không bị bớt một xu nào!

Nước Mỹ chắc chắn rằng có một Liên Minh Quân Sự với các nước Hồi Giáo khu vực Trung Đông và một chiến lược ngăn chặn, tiêu diệt các nhóm vũ trang khủng bố quốc tế Hồi Giáo Quá Khích ISIL ở các nước Syria và Iraq; cũng như nước Mỹ chắc chắn rằng có một Liên Minh Quân Sự với các nước Á Châu và Úc Châu để ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng bá quyền của Tàu Cộng ở khu vực Tây Thái Bình Dương bao gồm Đông Á và Đông Nam Á. Khi những người cầm quyền Đảng Tàu Cộng tỏ ý dòm ngó thèm muốn các vùng biển thuộc Đảo Guam của Mỹ cũng như các vùng biển phía bắc Úc Châu trong phạm vi Chuỗi Hải Đảo Thứ Nhì của Tàu Cộng thì Nhân Dân Mỹ đã khẳng định rằng Tàu Cộng là một bọn Cướp Biển nguy hiểm.

Tóm lại, quả thật những người cầm quyền Đảng Tàu Cộng có đầu óc điên rồ, ngông cuồng, ngang ngược khi muốn chiếm đoạt độc quyền kiểm soát những khu vực biển rộng lớn đã từng là những hải phận quốc tế mà các nước đều có quyền tự do giao thông hàng hải. Một khi Hải Quân Tàu Cộng gây trở ngại tự do giao thông hàng hải thì cái lực lượng hải quân này trở thành một bọn Cướp Biển Á Châu mà không có một nước tự do nào trên thế giới sẽ chấp nhận bọn chúng. Như vậy những người cầm quyền Đảng Tàu Cộng có khả năng gì để hợp-pháp-hoá cái quyền-bá-chủ ở khu vực Tây-Thái-Bình-Dương bao gồm các vùng biển Đông Á và Đông Nam Á?

Dr. Tristan Nguyễn 
San Francisco, 14/9/2014

Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2016

GIẶC CƯỚP BIỂN ĐÔNG NAM Á - TÀU CỘNG VIỆT CỘNG

GIẶC CƯỚP BIỂN ĐÔNG NAM Á
TÀU CỘNG VIỆT CỘNG


GIẶC CƯỚP BIỂN ĐÔNG NAM Á
ĐẢNG CƯỚP TÀU CỘNG ĐÀN ANH


GIẶC CƯỚP BIỂN ĐÔNG NAM Á
ĐẢNG CƯỚP VIỆT CỘNG ĐÀN EM

Thứ Bảy, 9 tháng 7, 2016

TÀU CỘNG CƯỚP BIỂN TRÂNG TRÁO NGANG NGƯỢC

TÀU CỘNG CƯỚP BIỂN TRÂNG TRÁO NGANG NGƯỢC

Nguyễn Thành Trí -Trong quá khứ bọn Tàu Cộng Cướp Biển đã từng tỏ ra rất trâng tráo, ngang ngược trong một số vấn đề có liên quan tới các nước khác. Quan hệ quốc tế của Hoa Lục Tàu Cộng đã từng có lúc không tốt, nhất là những khi Tàu Cộng đã yễm trợ cho các nhóm cộng sản Mao-ít địa phương nổi dậy nhưng không thành công trong việc chống chính phủ của các nước chậm tiến ở Á Châu.  Đó là những thành tích cộng sản Mao-ít bất hão của bọn Tàu Cộng trong thế kỷ 20 vừa qua. Bây giờ, trong hiện tại cũng rõ ràng là bọn Tàu Cộng vẫn còn có mối quan hệ quốc tế rất xấu, rất trâng tráo và ngang ngược, đối xử hung hăng với các nước nhỏ láng giềng trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á.  Vào đầu tháng 7/2016 Tàu Cộng đã tuyên bố một “vùng cấm hải hành, phi hành” bao gồm khoảng 190000 cây số vuông của hải phận quốc tế ở phía đông nam của Đảo Hải Nam trong Biển Đông Nam Á.  Tuyên bố một vùng cấm hải hành, phi hành (No Sail Zone) trong hải phận quốc tế như vậy, rõ ràng Tàu Cộng đã vi phạm Công Ước Quốc Tế Luật Biển của Liên Hiệp Quốc (the United Nations Law of the Sea Convention).
Căn cứ vào Công Ước Quốc Tế Luật Biển của Liên Hiệp Quốc thì các quốc gia có khả năng hải quân và có phương tiện khả thi một cuộc tập trận trên biển đều có quyền tuyên bố một vùng biển để luyện tập hải quân của họ và phải thông báo rõ cho các hãng hàng không và hãng hàng hải (Notice to Airmen, Notice to Mariners) để họ biết đề phòng tai nạn có thể xảy ra.  Quốc gia tổ chức cuộc tập trận như vậy phải luôn cảnh giác phòng ngừa những nhầm lẫn tai nạn có thể do chính cuộc tập trận gây ra, nên phải yêu cầu, chứ không được ra lệnh cho bất cứ tàu thuyền hoặc phi cơ của ngoại quốc phải chạy tránh đi chỗ khác. Bởi một lý lẽ giản dị dễ hiểu, đó là hải phận quốc tế.
Cơ Quan Quản Lý An Toàn Hàng Hải Tàu Cộng đã tuyên bố một vùng “cấm hải hành, phi hành” (No Sail Zone) với lý do của cuộc tập trận hải quân Tàu Cộng trên biển trong thời gian từ ngày 5/7/2016 đến 11/7/2016.  Cũng có một điều đáng được chú ý là ngày chấm dứt cuộc tập trận trên biển này lại trùng hợp trước một ngày Toà Trọng Tài Thường Trực ở Hague công bố phán quyết về cuộc tranh chấp giữa hai nước Hoa Lục Tàu Cộng và Phi về chủ quyền lãnh thổ Bãi Cạn Scarborough. Hoa Lục Tàu Cộng dự kiến rằng sẽ bị thua kiện, nhưng họ cũng đã từng tỏ rõ thái độ không chấp nhận Toà Trọng Tài Thuờng Trực và kết quả phán quyết của toà.
Tuy nhiên, sự kiện Hoa Lục Tàu Cộng “đơn phương tuyên bố một vùng Nhận Dạng Phòng Không – ADIZ hoặc một vùng Cấm Hải Hành, Phi Hành – No Sail Zone” không có gì mới lạ cả, vì Tàu Cộng đã từng làm như vậy, và các nước Mỹ cùng với Đồng Minh của Mỹ đều xem thường những trò giành giật chủ quyền, trâng tráo vô liêm sĩ, tư cách ngang ngược kẻ cướp của Tàu Cộng. Trong quá khứ Hải Quân Tàu Cộng đã từng tập trận có qui mô nhỏ trên Biển Đông Nam Á và cũng khoanh một vùng biển có chu vi tượng trưng chung chung rộng lớn để tập trận, nhưng cuộc tập trận hiện nay có tính cách nhạy cảm của thời gian trùng hợp với ngày dự định công bố phán quyết của Toà Trọng Tài Thường Trực về việc Hoa Lục tranh chấp chủ quyền biển, đảo với nước Phi.    
 Mặc dù phán quyết của Toà Trọng Tài Thường Trực sẽ không thể giải quyết được những vấn đề chủ quyền biển, đảo của hai nước Phi và Hoa Lục, nhưng phán quyết của toà sẽ đặt căn bản pháp lý trên những khía cạnh tranh chấp của Tàu Cộng. Hoa Lục Tàu Cộng đã tuyên bố chủ quyền trên 95% vùng Biển Đông Nam Á ở phía nam miền duyên hải của Hoa Lục. Một cách cụ thể 95% vùng Biển Đông Nam Á có nghĩa rất rõ ràng là Tàu Cộng ngang ngược cưỡng chiếm hầu hết những lãnh hải của các nước láng giềng như Việt Nam, Philippines, Brunei, Indonesia, Malaysia.   
Nhiều người cũng đã suy đoán là Tòa Trọng Tài Thường Trực sẽ có thể tuyên bố rằng Hoa Lục Tàu Cộng không có chủ quyền lãnh hải, bởi vì một vùng biển quá rộng, lớn hơn 370 cây số của Vùng Đặc Quyền Kinh Tế thường có của một quốc gia ven biển, là một điều rất vô lý; mọi người không thể chấp nhận.
Mặt khác, Toà Trọng Tài Thường Trực cũng sẽ có thể tuyên bố có lợi cho Hoa Lục Tàu Cộng rằng căn cứ vào huyền sử của dân tộc Hán ở trung nguyên đại lục Á Châu hơn 4000 năm về trước là con cháu của Rồng, của Khủng Long Á Châu đã từng làm chủ muôn loài thú vật khác trong khu vực Biển Hoa Nam, nay còn gọi là Biển Đông Nam Á. Bây giờ, người Hán Hoa Lục Tàu Cộng phải tuân thủ chấp nhận di sản của tổ tiên Khủng Long Hán tộc để lại, thừa kế truyền thống Khủng Long Vương Á Châu để tiếp tục chiếm hữu cai trị tất cả vùng biển này. 
Đây là một loại huyền sử thời kỳ khủng long có mặt trên trái đất trước khi bị tuyệt chủng.Bây giờ, người Hán Hoa Lục Tàu Cộng biện luận rằng cái di sản Biển Đông Nam Á, còn gọi là Biển Hoa Nam, là do chính tổ tiên Khủng Long Hán Tộc của họ để lại cho họ, nên họ đương nhiên có quyền thừa hưởng. Tuy nhiên, cái nguồn gốc tổ tiên Khủng Long Hán Tộc không có tính cách thuyết phục, không có bằng chứng lịch sử rõ rệt; bởi vì đó là loại huyền sử thời kỳ khủng long, và tất cả các loài khủng long trên mặt đất này đều bị tuyệt chủng. 
Hoặc sẽ có thể là Toà Trọng Tài Thường Trực như tên gọi của toà là trọng tài, hoà giải, để bảo vệ hoà bình thế giới, cho nên toà sẽ công bố một phán quyết dung hoà để bảo vệ hoà bình thế giới, để tránh cho Hoa Lục Tàu Cộng không bị mất thể diện, để tránh làm cho những tên lãnh đạo Cương Thi Tàu Cộng nổi trận điên cuồng làm điều xằng bậy nguy hiểm cho những nước khác.  Mục đích của một phán quyết yêu chuộng hoà bình như vậy của toà trọng tài, hoà giải cũng sẽ có thể giúp cho cả hai nước Phi và Hoa Lục cùng nhận thấy rằng họ có thể tránh được sự xung đột vũ trang mà khi xảy ra, thì phải có qui mô rất lớn và rất ác liệt.
Sự xung đột vũ trang giữa nước Phi và Hoa Lục Tàu Cộng sẽ có qui mô rất lớn và rất ác liệt, bởi vì sẽ có quân đội Mỹ tham dự.  Cho dù Hoa Lục Tàu Cộng luôn miệng nói rằng nước Mỹ không được can thiệp vào, vì nước Mỹ không phải là một nước Á Châu, và không có liên quan gì tới các vấn đề tranh chấp biển, đảo trong khu vực Biển Đông Nam Á, nhưng rõ ràng là trong thời gian hơn một trăm năm qua nước Mỹ đã đang có nhiều quyền lợi nhất ở Á Châu khi nước Mỹ bảo vệ quyền tự do lưu thông, giao thương quốc tế trong một khu vực có trị giá hơn năm ngàn tỉ đôla mỗi năm. Vì vậy, khi bị Tàu Cộng gây trở ngại, xâm phạm những quyền lợi, an ninh quốc gia của nước Mỹ đã từng có từ trước tới nay, thì lẽ tất nhiên nước Mỹ phải có biện pháp quyết liệt bảo vệ, và đồng thời tôn trọng thực hiện những cam kết giữa nước Mỹ với các nước đồng minh Châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ. 
Hơn nữa, xem xét trên phương diện địa lý, không có một quốc gia nào như nước Mỹ có một miền duyên hải rất rộng, rất dài trên bờ Thái Bình Dương là liên tiếp những tiểu bang Alaska, Washington, Oregon, California, và nhất là Hawaii ở ngay giữa Thái Bình Dương. Khi bọn cầm quyền Hoa Lục Tàu Cộng nói rằng nước Mỹ không phải là một nước Á Châu, là bọn chúng nói năng hàm hồ, ngu xuẩn. Trong chính sách toàn cầu của nước Mỹ có chính sách Xoay Trục Á Châu vào thế kỷ 21 là một lý lẽ tất nhiên. Chỉ có một điều đáng được quan tâm là cả bọn con cháu Khủng Long Hán Tộc có trỗi dậy lớn mạnh trong hoà bình hay không. Người ta vẫn giữ kiên nhẫn chờ xem cái thái độ của bọn cầm quyền Hoa Lục Tàu Cộng là một nước lớn phát triển toàn diện, văn minh, có văn hoá và có trách nhiệm, hay chỉ là một bọn Cương Thi Tàu Cộng có truyền thống gian manh, xảo quyệt, bành trướng lãnh thổ, cưỡng chiếm lãnh hải của nước láng giềng rất ngang ngược theo cách kẻ cướp.
Không cần phải xác định là sự kiện Hoa Lục Tàu Cộng đã đang quân sự hoá các hòn đảo nhân tạo có làm tổn hại những quyền lợi an ninh quốc gia của nước Mỹ hay không, giữa hai nước Phi và Mỹ đã có một hiệp ước phòng thủ chung, nếu một cuộc tấn công quân sự nhắm vào quân đội, tàu thuyền, máy bay, hoặc lãnh thổ hải đảo của nước Phi dưới quyền quản trị của nước Phi ở phiá Tây Thái Bình Dương, thì dĩ nhiên là nước Mỹ phải can thiệp bảo vệ nước đồng minh. Nước Mỹ cũng đã từng gián tiếp bày tỏ thái độ không công nhận chủ quyền của Hoa Lục Tàu Cộng ở những vùng biển, đảo nhân tạo đang tranh chấp với nước Phi; như vậy có nghĩa là nước Mỹ vẫn luôn luôn tôn trọng hiệp ước phòng thủ chung với nước Phi.
Vào ngày thứ Tư 6/7/2016 Hải Quân Mỹ đã điều động bảy chiến hạm hoạt động tuần tra trong khu vực phía nam Biển Đông Nam Á, gồm có chiếc tàu sân bay USS Reagan, hai chiếc hộ tống hạm, và bốn chiếc khu trục hạm. Ba chiếc khu trục hạm USS Spruance, USS Stethem, USS Momsen trong số bốn chiếc khu trục hạm này đã áp sát tuần tra những hòn đảo nhân tạo được quân sự hoá của Tàu Cộng trong nhóm quần đảo Trường Sa. Trong suốt thời gian dài mấy chục năm Chiến Tranh Lạnh cho tới nay, Hải Quân Mỹ vẫn thường xuyên điều động những chiếc khu trục hạm phối hợp cùng với những chiếc phi cơ trinh sát của Hải Quân Mỹ thi hành những chuyến hải hành, phi hành trong toàn vùng trời và vùng biển thuộc miền Tây Thái Bình Dương.  Hải Quân Mỹ đã từng thực hiện hành quân như vậy trong quá khứ, và cũng sẽ làm như vậy trong hiện tại, cũng như trong tương lai.
Tóm lại để kết luận rằng khu vực Biển Đông Nam Á trong phạm vi Châu Á-Thái Bình Dương sẽ có một tương lai hoà bình thịnh vượng chung của các nước có liên quan sống chung hoà bình tuân thủ nghiêm chỉnh luật pháp quốc tế, hay các nước Đông Nam Á sẽ phải chịu sự khống chế thống trị của bọn con cháu Khủng Long Hán Tộc và bọn Cương Thi Cộng Sản trỗi dậy trong một liên minh độc tài đảng trị Tàu Cộng-Hàn Cộng-Việt Cộng-Lào Cộng-Miên Cộng ở Đông Á và Đông Nam Á. Cũng có thể cái liên minh độc tài này sẽ có sự tiếp tay của bọn Phi Cộng. Bây giờ, thực tế quá rõ ràng như vậy, Đảng Trưởng Tàu Cộng Mao và Đảng Trưởng Việt Cộng Hồ đã cùng nhau từng có ý đồ cưỡng chiếm cả Đông Nam Á, đúng không?./.

Nguyễn Thành Trí – Sài Gòn, Chủ Nhật 10/7/2016

Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2016

NGƯỜI MỸ NHẬN XÉT VỀ NGƯỜI VIỆT NAM

NGƯỜI MỸ NHẬN XÉT VỀ NGƯỜI VIỆT NAM


Người Mỹ Nhận Xét Về Người Việt Nam
Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học Hoa Kỳ (American Institute for Social Research) đã nói lên 10 đặc tính căn bản của Người Việt, như sau:

1.- Cần cù lao động, nhưng dễ thỏa mãn.

2.- Thông minh, sáng tạo khi phải đối phó với những khó khăn ngắn hạn, nhưng thiếu khả năng suy tư dài hạn và linh hoạt.

3.- Khéo léo, nhưng ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng các thành phẩm của mình.

4.- Vừa thực tế vừa có lý tưởng, nhưng lại không phát huy được xu hướng nào thành những nguyên lý.

5.- Yêu thích kiến thức và hiểu biết nhanh, nhưng ít khi học sự việc từ đầu đến cuối, nên kiến thức không có hệ thống hay căn bản. Ngoài ra, Người Việt không học vì lợi ích của kiến thức (lúc nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện hay vì những công việc tốt).

6. Cởi mở và hiếu khách, nhưng sự hiếu khách của họ không kéo dài.

7. Tiết kiệm, nhưng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô nghĩa (vì sĩ diện hay muốn phô trương).

8.- Có tinh thần đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau chủ yếu trong những tình huống khó khăn và nghèo đói, còn trong điều kiện tốt hơn, đặc tính này ít khi có.

9.- Yêu hòa bình và có thể chịu đựng mọi thứ, nhưng thường không thẳng thắn vì những lý do lặt vặt, vì thế hy sinh những mục tiêu quan trọng cho lợi ích của những mục tiêu nhỏ.

10.- Và sau cùng, thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh (một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 2 người làm thì kém, 3 người làm thì hỏng việc).

Những phân tích trên đây cho chúng ta thấy Người Mỹ đã hiểu rất rõ Người Việt.

According to the American Institute of Social Research, the Vietnamese people have 10 major characteristics; as follows:

- First, they are hard-working but easy to satisfy.
- Second, they are smart and creative to cope with short-termed difficulties, but lack long-termed and active reasoning abilities.
 - Third, they are dexterous but hardly pay attention to the final perfection of their products.

- Fourth, they are both practical and idealistic, but don’t develop either of these tendencies into theories.

- Fifth, they love knowledge and have quick understanding, but hardly learn from the beginning to the end of things, so their knowledge isn’t systemic or fundamental. In addition, Vietnamese people don’t study just for the sake of knowledge (when small, they study because of their families; growing up, they study for the sake of prestige or good jobs).

- Sixth, they are open-hearted and hospital, but their hospitality doesn’t last.

- Seventh, they are thrifty, but many times squander money for meaningless reasons (to save face or to show off).

- Eighth, they have solidarity and help each other chiefly in difficult situations and poverty; in better conditions, this characteristic rarely exists.

- Ninth, they love peace, and can endure things, but they are often not frank for sundry reasons, so sacrifice important goals for the sake of small ones.

- And last, they like to gather, but lack connectivity to create strength (one person can complete a task excellently; 2 people do it poorly, and 3 people make a mess of it).

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2016

HAPPY BIRTHDAY AMERICA LET FREEDOM RING

HAPPY BIRTHDAY AMERICA
LET FREEDOM RING

CHÚC MỪNG SINH NHẬT HIỆP-CHỦNG-QUỐC HOA-KỲ
HÃY ĐỂ TIẾNG CHUÔNG TỰ DO REO VANG

Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2016

BÌNH ĐẲNG THỰC SỰ ĐỂ LÀM NGƯỜI CHÂN THẬT

BÌNH ĐẲNG THỰC SỰ 

 ĐỂ LÀM NGƯỜI CHÂN THẬT  
             
           

Nguyễn Thành Trí
Giống như đa số những xã hội hiện đại tiến bộ, chính phủ của ba nước Việt-Miên-Lào đã và đang xây dựng xã hội của họ theo một mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa, trên lý thuyết có điểm nhấn mạnh bảo đảm chấm dứt mọi hình thức áp bức bất công. Vì vậy Nhân Quyền của người Đồng Tính dã phải được chính phủ của ba nước Việt-Miên-Lào tôn trọng và bảo vệ theo luật pháp của họ, nếu có những khía cạnh pháp lý xét ra đã bị lạc hậu, thì họ phải tu chính cho thích đáng. Cuộc cách mạng ở ba nước Việt-Miên-Lào phải được hiểu đúng nghĩa của nó là đem lại sự bình đẳng cho mọi người dân trong nước, và sự bình đẳng của người đồng tính có tất cả các quyền như mọi công dân khác.  Đó là Nhân Quyền cũng như các quyền Tự Do Chính Trị của người Đồng Tính cho họ được Bình Đẳng Thực Sự Để Làm Người Chân Thật.

Tuy nhiên, trong xã hội ở ba nước Việt-Miên-Lào vẫn còn nhiều giới hạn pháp lý đã đang được áp dụng trên những hoạt động của người đồng tính.  Những luật lệ được duy trì tình trạng bất công, không bình đẳng đối với người đồng tính đã và đang bị kỳ thị, phân biệt đối xử.  Giới chức cầm quyền quản trị xã hội ở ba nước Việt-Miên-Lào vẫn còn giữ chặt những quan niệm truyền thống gia tộc phong kiến và các giá trị luân lý bảo thủ đã từng không xem trọng người đồng tính như những con người có giá trị như mọi người. Hãy nói cho rõ hơn là họ đã đang có thái độ ghê tởm, xa lánh, kỳ thị người đồng tính và người chuyển giới tính.
Khi cơn khủng hoảng của bệnh liệt kháng HIV Si-đa bùng nổ vào hai thập niên 1980-1990, chính phủ của ba nước Việt-Miên-Lào chỉ đối phó cầm chừng trong các biện pháp ngăn chặn từng lúc sự nghiện hút và chích ma tuý, nhưng họ đã bỏ qua không đề cập tới và không chữa trị, ngăn chặn những kiểu cách của căn bệnh liệt kháng HIV Si-đa lây lan, truyền nhiễm qua đường tình dục của những người đồng tính. Nói chung đây đúng là thái độ ghê tởm, xa lánh, kỳ thị người đồng tính và người chuyển giới tính trong xã hội của ba nước Việt-Miên-Lào.
Trong quá khứ những đám cưới của người đồng tính đều bị giới cầm quyền địa phương chỉ trích và ngăn cấm. Trên các phương tiện thông tin tuyên truyền của nhà nước quản lý đều có luận điệu kết tội đồng tính luyến ái là một “điều tội lỗi”, một tệ nạn xã hội.  Ngay cả Bộ Xã Hội, Lao Động và Thương Binh của Việt Nam cũng đã lên tiếng than phiền rằng những người đồng tính và người chuyển giới tính đều có “tính nết kỳ quặc” đã đang xâm nhập vào những kỷ nghệ du lịch, khách sạn, tiệm ăn và quán bar, hộp đêm, câu lạc bộ.  Họ đã kết tội những người đồng tính và người chuyển giới tính làm cho lây lan qua đường tình dục bệnh liệt kháng HIV Si-đa, những bệnh truyền nhiễm, làm gia tăng việc hút và chích ma tuý, và mãi dâm.

Đến thập niên 2000 khi tỉ lệ người đồng tính bị lây nhiễm HIV Si-đa đã tăng cao 20% một cách đáng sợ thì lúc đó giới cầm quyền Việt Nam mới đồng ý thêm những người đồng tính vào danh sách những nhóm công dân cần được giáo dục sự hiểu biết về bệnh liệt kháng và siêu vi khuẩn HIV, và gia tăng biện pháp ngăn chặn.  Chính nhờ vào sự thay đổi chính sách của giới cầm quyền đã thực sự làm khởi động tổ chức một phong trào đoàn kết người đồng tính hiểu biết được những quyền lợi căn bản của họ phải có.  Những chương trình giáo dục về giới tính, sự hiểu biết về bệnh liệt kháng và siêu vi khuẩn HIV, sự hiểu biết về phòng bệnh và ngăn ngừa lây nhiễm, chính là những nơi đã tạo cơ hội cho người đồng tính và người chuyển giới tính gặp mặt nhau để bắt đầu xây dựng nên một cộng đồng người đồng tính và chuyển hệ có tổ chức mà giới cầm quyền phải công nhận.  Họ không phải như trước đây phải lén lút che đậy ở trong những hộp đêm, quán bar hay câu lạc bộ trá hình.  Những người đồng tính và chuyển giới tính đã không còn lo sợ, đã mạnh dạn, hãnh diện bước ra ánh sáng trong một xã hội bình đẳng có mọi người khác không kỳ thị, không phân biệt đối xử với họ.

Trong hai thập niên 1990 và 2000 các hệ thống tư pháp, hộ tịch ở ba nước Việt-Miên-Lào đã không quan tâm tới những vấn đề pháp lý của những người đồng tính.  Vì họ có quan niệm rằng đây là một tệ nạn xã hội, nên họ thường lên án, kết tội những người đồng tính hơn là có giải quyết theo pháp luật một cách thích đáng theo sự hiểu biết là người đồng tính và người chuyển giới tính cũng có Quyền Con Người căn bản của họ. Bởi vậy, khi giới cầm quyền của ba nước Việt-Miên-Lào đã quyết định xoay chiều theo hướng chấp nhận các vấn đề của người đồng tính và chuyển giới tính đã từng có xảy ra trong xã hội, thì sau đó họ cũng đã gián tiếp gây ra một tình trạng bối rối, lúng túng trong các toà án dân sự khi có những tranh tụng liên quan tới quyền giám hộ con, quyền chia tài sản, và quyền thừa kế tài sản của một cặp Vợ-Chồng-Đồng-Tính đã li dị.  Đây rõ ràng là những vấn đề pháp lý rất phức tạp của người đồng tính và người chuyển giới tính, nhưng không phải vì vậy mà giới cầm quyền quản trị xã hội cứ bỏ rơi, mặc kệ họ.  Lẽ tất nhiên người đồng tính và người chuyển giới tính có Quyền Con Người căn bản của họ mà không ai có thể phủ nhận được. 
Trên thực tế ở ba nước Việt-Miên-Lào đã có Luật Hôn Nhân và Gia Đình, nhưng các giới chức làm ra luật ở quốc hội đã không thể cứu xét, tu chính lại, và đồng thuận chấp nhận những dự luật nhằm giải quyết thoả đáng cái tình trạng pháp lý mơ hồ, không rõ ràng có liên quan tới người đồng tính và người chuyển giới tính.
Cái tình trạng pháp lý mơ hồ như vậy cứ kéo dài, nên nó đã đang tiếp tục gây ra sự kỳ thị và phân biệt đối xử, ghét bỏ cả cộng đồng người đồng tính và người chuyển giới tính ở trong nước.

Cho mãi tới cuối năm 2014 giới cầm quyền nước Việt Nam mới cho phép những người đồng tính được chính thức kết hôn, nhưng họ vẫn chưa được hưởng những quyền lợi pháp lý về hôn nhân được thừa nhận như của những cặp vợ chồng nam-nữ khác trong xã hội.  Mặc dù vẫn còn phải chịu nhiều giới hạn, những người đồng tính và người chuyển giới tính hiện nay có tiếp nhận được sự giáo dục hiểu biết rõ bản than, trở nên những cá nhân mạnh mẽ tự tin hơn để sống trong gia đình, trong cộng đồng có sự bao dung, và trong xã hội có tình thương con người với nhau.
Trong nhiều năm trước đây, những người chuyển giới tính cần phải được giải phẩu để sửa chữa, điều chỉnh cho đúng giới tính, và họ phải đi sang Thái Lan để thực hiện cuộc giải phẩu này, nhưng họ vẫn chưa được phép đăng ký hộ tịch nhận dạng giới tính nam nữ thực sự của họ.  Trên thực tế hiện nay ở Việt Nam có phương tiện và khả năng kỷ thuật chuyên môn để thực hiện tốt các cuộc giải phẩu chuyển giới tính.  Chỉ còn vấn đề pháp lý là giới cầm quyền có chấp thuận hợp pháp hoá lãnh vực y tế này để phục vụ cộng đồng người đồng tính và người chuyển giới tính hay không.

Bây giờ ở những xã hội của các nước Á Châu phải chấp nhận một tình trạng thực tế là họ đã đang có những cộng đồng người đồng tính và người chuyển giới tính với tư cách cá nhân mạnh mẽ hơn, có lòng tự trọng và tự tin hơn, có giáo dục hiểu biết hơn trước, có sức khoẻ và có năng lực làm việc tốt.  Họ có đầy đủ bổn phận và nghĩa vụ của người công dân tốt; như vậy nhân quyền của họ phải được chính phủ tôn trọng.

Trong một thời gian dài của quá khứ ở những nước cộng sản cai trị, những người đồng tính luyến ái đều bị ngược đãi thậm tệ vì họ bị kết án là thành phần cặn bã của xã hội tư bản cần phải bị huỷ diệt. Trên thực tế ở ba nước Việt-Miên-Lào có những con đường gập ghềnh, không dễ dàng, không giống nhau để đi về hướng của Bình Đẳng Thực Sự cho người đồng tính và người chuyển giới tính ở trong nước.  Trong những giải pháp khác nhau, họ đã thực hiện diễn biến hoà bình ở các xã hội của họ khởi đầu bằng kỳ thị, phân biệt đối xử, ngược đãi, trừng phạt, bỏ rơi, mặc kệ, từ chối nhân quyền của người đồng tính, không chấp nhận dân số của cộng đồng người đồng tính trong xã hội; tất cả các sự kiện vừa nêu ra đã đang diễn biến thay đổi thuận lợi, ôn hoà để người đồng tính và người chuyển giới tính được thực sự bình đẳng trong xã hội.   
Hơn nữa, Việt Nam đã đang trở thành một lực lượng dẫn đầu trên mặt trận tranh đấu cho nhân quyền của người đồng tính, một sự Bình Đẳng Thực Sự cho cộng đồng người đồng tính và người chuyển giới tính ở trong nước so sánh với các nước cộng sản còn lại trong khu vực như Hoa Lục Tàu Cộng, Bắc Hàn, Miên, Lào; những nước mà giới cầm quyền của họ vẫn còn lưu giữ và thực hành những định kiến và luật lệ trấn áp người đồng tính luyến ái như trong quá khứ tiền cách mạng của họ đã từng làm.
Với trường hợp ông Đại Sứ Mỹ tại nước Việt Nam, ông Ted Osius là một người đồng tính với tư cách cá nhân là người vợ, đã lập gia đình với ông Clayton Bond, một người đồng tính khác có tư cách cá nhân làm người chồng.  Cả hai đều là nhân viên cao cấp trong ngành ngoại giao Mỹ.  Họ đã tổ chức đám cưới với sự chứng kiến của thân nhân và bà Chánh Án Tối Cao Pháp Viện Mỹ vào năm 2006. Cho tới nay cuộc hôn nhân của họ đã được mười năm rất đầm ấm hạnh phúc.  Hiện nay họ đang nuôi dưỡng hai đứa con nuôi gốc người Mỹ La-tinh, một bé trai tên Tabo và một bé gái tên Lucy.  Gia đình của ông Đại Sứ Mỹ Ted Osius là một gia đình người Mỹ hiện đại rất tiến bộ, gia đình hiệp chủng hoà hợp bởi vì Ted Osius và Clayton Bond bình đẳng thực sự, không có tình cảnh gia đình chồng chúa vợ tôi, Ted Osius là người Mỹ Trắng, Clayton Bond là người Mỹ Đen, hai đứa con nuôi là người Mỹ La-tinh da Nâu hiện sống trong một gia đình hiệp chủng hoà hợp rất tốt.
Ông Đại Sứ Mỹ Ted Osius đã từng tuyên bố rõ ràng là ông sẵn sàng giúp đỡ, yễm trợ, ủng hộ nhân quyền cho các cộng đồng người đồng tính và người chuyển giới tính ở Việt Nam cũng như ở các nước khác trong khu vực Đông Nam Á.  Cũng có một khía cạnh xã hội và chính trị rất tế nhị ở trong nước Việt Nam, đó là Đảng Việt Cộng từ trước tới nay luôn luôn tuyên truyền hô hào xây dựng một xã hội theo mô hình xã hội chủ nghĩa chân chính, một nơi không có tình cảnh áp bức, bất công, người bóc lột người, người kỳ thị phân biệt đối xử người dưới mọi hình thức. Với những luận điệu tuyên truyền như vậy, Đảng Việt Cộng hiện tại là Độc Đảng độc tài đang cầm quyền cai trị đất nước, xã hội và người dân Việt Nam, hãy thực hiện những chính sách hoà hợp đúng đắn, tôn trọng nhân quyền của người dân Việt Nam cho mọi công dân đều Bình Đẳng Thực Sự Để Làm Người Chân Thật./.

Nguyễn Thành Trí – Sài Gòn, Chủ Nhật 26/6/2016

Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2016

CON CHIM-ĐEN SR-71 VÀ SR-72 - SR-71 AND SR-72 BLACKBIRDS

CON CHIM-ĐEN SR-71 VÀ SR-72
HẮC-ĐIỂU SR-71 AND SR-72
SR-71 AND SR-72 BLACKBIRDS
SR-72 BLACKBIRD
SR-71 BLACKBIRD

Chiếc phi cơ phản lực siêu âm Con Chim-Đen SR-72, còn gọi là Hắc-Điểu SR-72, chiếc SR-72 Blackbird này không người lái, nhưng có khả năng bay vượt bức tường âm thanh Mach 6, và có thể từ không gian bắn ra những tên lửa tiêu diệt mục tiêu ở dưới mặt đất rất chính xác.
Trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, từ năm 1964 đến 1998 là chiếc Hắc-Điểu SR-71 với vận tốc bay Mach 3+ chỉ được sử dụng để bay dò thám, trinh sát; sau thời gian 30 năm làm việc tích cực có hiệu quả cao, đến năm 1998 nó đã nghỉ hưu.  Chiếc Hắc-Điểu SR-71 đã đạt kỷ lục thế giới về loại máy bay có người lái bay nhanh nhất.

Hiện nay chiếc Hắc-Điểu SR-72 không người lái, tự vận hành với vận tốc bay nhanh Mach 6 đang thay thế cho chiếc Hắc-Điểu SR-71 trong các nhiệm vụ tình báo, dò thám, trinh sát (ISR) từ trên không gian. Rõ ràng chiếc Hắc-Điểu SR-72 có khả năng bay nhanh gấp hai lần chiếc Hắc-Điểu SR-71, và rất đặc biệt là nó có khả năng từ trên không gian tấn công các mục tiêu dưới mặt đất.