Chủ Nhật, 25 tháng 3, 2018

NGUYỄN VĂN ĐÔNG LÀ CHÍNH SÁCH THẤT BẠI CỦA VIỆT CỘNG


NGUYỄN VĂN ĐÔNG LÀ CHÍNH SÁCH THẤT BẠI CỦA VIỆT CỘNG 
Đại Tá Nguyễn Văn Đông
Nguyễn Thành-Trí
Chúng ta sẽ soi sáng một góc tối cuộc đời, một tâm sự u uất của Đại Tá Nguyễn Văn Đông đến chết vẫn kiên trì chịu đựng để nói “chính sách thất bại của Việt Cộng”.  Quả thật Nguyễn Văn Đông là chính sách thất bại của CSVN.  Chúng ta không nói đến sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông vì ông ta hiển nhiên là một cây cổ thụ trong khu vườn văn nghệ Việt Nam Cộng Hoà muôn màu sắc nhân bản thắm tươi. Ở đây chúng ta nói đến Đại Tá Nguyễn Văn Đông vào ngày 30/4/1975 là Chánh Văn Phòng khối An Ninh Lãnh Thổ của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.

Mặc dù có nhiều cơ hội tốt, an toàn trong buổi chiều ngày 28/4/1975 Đại Tá NVĐ có thể đi cùng với Đại Tướng Viên, Chuẩn Tướng Thọ. Hay trọn ngày 29/4/1975 tại Bộ TTM có thể đi với Trung Tướng Khuyên, Trung Tướng Minh; hơn nữa, khi Tướng Kỳ đáp trực thăng xuống sân TTM để đón Tướng Trưởng, Đại Tá NVĐ cũng có thể đi với tướng Trưởng, hoặc tới tòa Đại Sứ Mỹ vì Đại Tá Nguyễn Văn Đông Chánh Văn Phòng khối An Ninh Lãnh Thổ không xa lạ gì với nhân viên CIA, MACV, DAO Tùy Viên Quốc Phòng ở tòa Đại Sứ nên họ dễ dàng cho Đại Tá Nguyễn Văn Đông độc thân di tản.

Tại sao một sĩ quan cao cấp đủ tiêu chuẩn của Mỹ, nói thông thạo tiếng Pháp tiếng Anh, độc thân không vướng bận gia đình, rất nổi tiếng trong giới ca nhạc sĩ Sài Gòn và thính giả miền nam trước năm 1975 và các chương trình văn nghệ của người Việt hải ngoại sau năm 1975 lại quyết định không định cư ở nước Mỹ tự do mà ở lại VN độc tài cộng sản?  Nếu viện dẫn lý do sức khỏe yếu kém sau 10 năm lao tù nên thân thể có nhiều bệnh như đau bao tử, áp huyết cao, thấp khớp nặng, thoái hoá khớp xương; những chứng bệnh này càng có yêu cầu đi Mỹ trị bệnh hơn là ở lại VN để chờ chết rồi được chôn cất nơi quê nhà. Kể từ khi được thả năm 1985 cho đến ngày 26/2/2018 Đại Tá Nguyễn Văn Đông chết vì vỡ mạch máu là 33 năm 57 ngày. CSVN không cấp 2 thước đất nghĩa trang thì lấy đâu ra chỗ chôn cất; thế là phải thiêu xác Nguyễn Văn Đông, không có một nấm mộ để sau này thăm viếng Nguyễn Văn Đông.

Vào năm 1956, có lẽ cái bắt tay lần đầu tiên giữa Đại Tá Dương n Minh và Trung Úy Nguyễn n Đông trong chiến dịch Thoại Ngọc Hầu ở Đồng Tháp Mười đã trở thành định mệnh của Nguyễn n Đông sau này.  Có sợi dây vô hình ràng buộc đàn anh Thiếu Sinh Quân của Nguyễn n Đông lúc đó là Trung Tá Nguyễn Hữu Hạnh dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Dương n Minh. Cả ba người, Dương n Minh sanh ở Mỹ Tho, Nguyễn Hữu Hạnh sanh ở Mỹ Tho, Nguyễn n Đông sanh ở Tây Ninh đều là người miền Nam và được giáo dục ở trường Pháp.  Năm 1949 Nguyễn Hữu Hạnh tốt nghiệp trường Võ Bị Cape Saint Jacques, ba năm sau 1952 Nguyễn n Đông cũng tốt nghiệp trường này. Ba người có duyên tiền định với nhau khi họ gặp nhau trong chiến dịch Thoại Ngọc Hầu. 

Xem xét lập trường chính trị của Nguyễn Văn Đông thì phía CSVN thấy Nguyễn n Đông là thành phần tốt có tinh thần dân tộc, không có nợ máu với VC, cụ thể những lời nhạc nói rõ lập trường dân tộc thuần tuý của Nguyễn n Đông như nội dung bản nhạc “Anh” hay lời “người Việt càng thương nhau hơn”.  Trong bản nhạc “Anh”, Nguyễn Văn Đông đã sớm bày tỏ nhân sinh quan của mình chống lại khuynh hướng vọng ngoại, khuynh hướng của người Việt ham thích sống ở nước ngoài sung sướng bản thân, mặc kệ quê hương VN nghèo khổ. Nguyễn Văn Đông nói rõ lập trường dân tộc thuần tuý của mình và kêu gọi người Việt ở hai miền Bắc-Nam thương yêu đoàn kết để thống nhất đất nước.  Khi phía VNCH đã cấm phổ biến hai bản nhạc của Nguyễn n Đông vì phản chiến, ban binh vận của CSVN càng muốn lôi kéo Nguyễn n Đông về phía VC.  

Còn phía VNCH chỉ thấy Nguyễn n Đông là một sĩ quan an phận không tranh đua với ai, một nhạc sĩ ca ngợi người lính VNCH có nhiều ca khúc nổi tiếng, nhưng vào năm 1961 Bộ Thông Tin VNCH cấm phổ biến hai bản nhạc “Chiều Mưa Biên Giới và Mấy Dậm Sơn Khê” vì lý do nội dung phản chiến; là quân nhân Đại Tá Nguyễn n Đông vào năm 1964 được tặng thưởng Bảo Quốc Huân Chương, huy chương cao quí nhất nước VNCH. Tại sao với tài năng của Nguyễn n Đông như thế mà chưa từng phục vụ trong ngành Tâm Lý Chiến hay Chiến Tranh Chính Trị? Nếu được ở ngành Chiến Tranh Chính Trị có lẽ Nguyễn n Đông đã thăng quan tiến chức nhiều hơn.  

Sau mười năm bị CSVN giam cầm ở trại cải tạo Suối Máu và khám Chí Hoà, Đại Tá Nguyễn Văn Đông được thả vào năm 1985.  Tại sao các sĩ quan VNCH cấp tá và cấp tướng đều bị tù cải tạo ở miền bắc, còn Đại Tá Nguyễn n Đông bị tù ở khám Chí Hoà, Sài Gòn miền nam? CSVN có âm mưu gì khi giam cầm Nguyễn Văn Đông ở khám Chí Hoà? Sau đó trong suốt thời gian được trả tự do, Đại Tá Nguyễn Văn Đông đã không vượt biên, khi Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự được Mỹ và CSVN đồng ý thực hiện thì hầu hết sĩ quan, hạ sĩ quan, công chức VNCH đã bị tù cải tạo trên hai năm đều đủ điều kiện nộp đơn xin đi Mỹ; nhưng Đại Tá Nguyễn Văn Đông không xin đi.

Suốt 33 năm 57 ngày Nguyễn n Đông đã sống thầm lặng, mai danh ẩn tích ngay tại Sài Gòn, chịu đựng cực khổ của một người nghèo lao động thành thị. Nguyễn Văn Đông hoàn toàn nghỉ sáng tác nhạc. Nguyễn n Đông không sáng tác nhạc nữa mà cũng không xin đi định cư nước ngoài mặc dù trong người có bệnh. Nguyễn n Đông ngấm ngầm muốn dùng cả sinh mệnh của mình ở lại Sài Gòn cho tới chết để mạnh mẽ chứng minh sự thất bại của CSVN trong chính sách quốc gia hòa giải, dân tộc hoà hợp thực sự. Nguyễn Văn Đông đúng là chính sách thất bại của Việt Cộng.

Lịch sử chân chính luôn tôn trọng sự thật.  Sự thật là cứu cánh của lịch sử chân chính.  Quan điểm lịch sử của CSVN là sửa đổi lịch sử bằng một thứ lịch sử dối trá bịp bợm có nhiều huyền thoại cộng sản, mà huyền thoại là những chuyện không có thật.  Những chuyện có thật rất nhiều trong lịch sử chiến tranh VN sau khi ký kết HĐHB Paris 1973 thí dụ điển hình là chuyện Tổng Thống Trần Văn Hương đã chấp thuận cho KQVNCH ném bom CBU-55, bom BLU-82 tại Xuân Lộc vào những ngày cuối tháng 4/1975 làm thiệt hại nặng BCH Sư Đoàn 341 CSBV. Điều này chứng minh rằng KQVNCH cũng như các quân binh chủng tác chiến khác của quân đội VNCH vào thời gian đó vẫn còn rất mạnh.  

Trong ngày 29/4/1975 chuyện ông Thủ Tướng Một Ngày Vũ Văn Mẫu ra lệnh cho tất cả người Mỹ đi khỏi nước VNCH trong thời hạn một ngày, chứ không phải do sức tấn công mãnh liệt của bộ đội CSBV làm cho quân Mỹ bị thua trận phải tháo chạy; thực tế là suốt trong ngày 29/4/1975 các đơn vị CSBV và lính địa phương VC miền Nam đã cố tránh động chạm tới người Mỹ vì sợ Mỹ đánh trả, chuyện ném bom ở Xuân Lộc đã khiến CSBV khiếp sợ Mỹ trả đũa đích đáng. Ông Thủ Tướng Một Ngày Vũ Văn Mẫu yêu cầu người Mỹ đi khỏi nước VNCH để người VN gồm có VNCH và VC miền Nam tự giải quyết vấn đề chính trị với nhau căn cứ theo HĐHB Paris 1973. Chính vì lý do đó người Mỹ mới đi khỏi miền nam VN trong thời hạn 24 giờ và hoàn toàn tôn trọng chủ quyền quốc gia VNCH. Ông Vũ Văn Mẫu đã giữ im lặng chịu sự nhục nhã cho tới chết. Về phía CSVN cũng không dám nhắc tới ông Vũ Văn Mẫu, vì nhắc tới ông Mẫu là vỡ ra chuyện có thật ông Mẫu đã yêu cầu người Mỹ đi trong thời hạn một ngày, chứ không phải những tướng tá CSBV hành quân quá giỏi nên người Mỹ phải cuốn cờ tháo chạy.  

Trong nổ lực tìm giải pháp chính trị đem lại hoà bình cho miền Nam VN đã nảy sinh thành phần thứ ba có khuynh hướng dân tộc thuần tuý, trung lập, không cộng sản, không quốc gia, làm trung gian hoà giải giữa hai phe lâm chiến Quốc-Cộng. Luật sư Vũ Văn Mẫu là người dẫn đầu Lực Lượng Thứ Ba với lập trường dân tộc thuần tuý như Đại Tướng Dương n Minh, Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Đại Tá Nguyễn n Đông. Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh nổi tiếng là một “Tướng Tư Lệnh Thận Trọng” vì không muốn giết hại thường dân VN vô tội.

Tâm lý của các sĩ quan được Pháp đào tạo, thân Pháp, không thích Mỹ. Nên khi có giải pháp chính trị Dương n Minh- n Mẫu do Đại Sứ Pháp đề xướng đã có rất đông các sĩ quan được Pháp đào tạo hưởng ứng để thực thi HĐHB Paris 1973 mà hai năm trước đó Tổng Thống Thiệu nhất định không thi hành. Vì tình nghĩa Thiếu Sinh Quân nên Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Văn Đông đã quen biết nhau từ năm 1956, là cựu sinh viên sĩ quan trường Cape Saint Jacques, cùng có tinh thần dân tộc thuần túy, yêu nước, yêu người VN, thân Pháp không thân Mỹ, với những đặc điểm đó có lẽ Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh đã lôi kéo, hứa hẹn một chức vụ ở bộ TTM để Đại Tá Nguyễn n Đông ở lại.

Trước tình hình TT Thiệu đã làm mất Vùng I , Vùng II về phía CSBV khiến cho các đơn vị ở miền Trung bị rối loạn hàng ngũ, tinh thần chiến đấu của lính VNCH bị sa sút.  Trong hai ngày 27, 28/4/1975 tất cả tướng lãnh bộ TTM đã ra đi; sự việc xảy ra như vậy, nên tân Tổng Thống Dương n Minh phải bổ nhiệm những cựu tướng lãnh đảm nhận trách nhiệm ở bộ tổng tham mưu như cựu Trung Tướng Vĩnh Lộc giữ chức TTM Trưởng, cựu Trung Tướng Nguyễn Hữu Có giữ chức TTM Phó, cựu Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh làm Phụ Tá TTM Trưởng. Nhưng Trung Tướng Vĩnh Lộc vài giờ sau đó cũng ra đi, nên Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh lên thay Tướng Vĩnh Lộc làm Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH.

Vì Thủ Tướng n Mẫu đã yêu cầu người Mỹ đi khỏi nước VNCH là để hai bên miền Nam gồm có VNCH và CPCMLTCHMNVN thương lượng hòa bình với nhau căn cứ trên HĐHB Paris 1973.  Trong ngày 29/4/1975 khi người Mỹ đã đi hết, có nghĩa là CSBV không sợ người Mỹ phản ứng bằng quân sự như vụ ném bom CBU, BLU ở Xuân Lộc thì ngày kế tiếp CSBV ép buộc TT Dương n Minh đầu hàng với lời hăm doạ tấn công làm cho Sài Gòn chìm ngập máu lửa. CSBV đã lường gạt hai ông Dương n Minh và Vũ n Mẫu về chuyện yêu cầu người Mỹ đi khỏi nước VNCH trong thời hạn 24 giờ để người VN tự giải quyết vấn đề chính trị với nhau căn cứ trên hiệp định hoà bình, và đánh đòn tâm lý vào Dương n Minh, n Mẫu bằng đe doạ tắm máu dân Sài Gòn.

Hiện nay Nguyễn Hữu Hạnh đã 92 tuổi ở tại Tiền Giang, Mỹ Tho quê hương của Nguyễn Hữu Hạnh. Sau ngày 30/4/1975 Nguyễn Hữu Hạnh không bị VC bắt tù cải tạo được VC cho làm uỷ viên trung ương Mặt Trận Tổ Quốc với tư cách nhân sĩ yêu nước từ năm 1975 tới nay.  CSVN đã lường gạt Nguyễn Hữu Hạnh là VC hoà giải quốc gia, hoà hợp dân tộc trong khi đó có rất nhiều quân nhân công chức VNCH bị bắt tù cải tạo nhiều năm. Sau 43 năm Nguyễn Hữu Hạnh còn nói tới hoà giải hoà hợp với người Việt hải ngoại. Nguyễn Hữu Hạnh đang sống ở VN nên Nguyễn Hữu Hạnh lẽ không dám nói lên sự thật, hay lẽ nào Nguyễn Hữu Hạnh không biết CSVN không có hoà giải hoà hợp thực sự.  

Những ngày cuối đời của Nguyễn Hữu Hạnh hãy mạnh dạn nói lên sự thật; sự thật rõ ràng là CSVN không thành tâm thiện chí để thực hiện chính sách quốc gia Việt Nam hoà giải, các dân tộc đang sinh sống tại Việt Nam hoà hợp thực sự. Có bằng chứng rõ ràng là CSVN đã và đang đàn áp, bắt giam những người đối lập chính trị, bất đồng chính kiến với cộng sản, v họ yêu nước chống Tàu Cộng. CSVN phải hoà giải với những người Việt trong nước bất đồng chính kiến với cộng sản. CSVN phải chấp nhận có đối lập chính trị ở trong nước VN. 

Vì lý lẽ đó, Nguyễn Hữu Hạnh nhất định phải đọc toàn bộ văn bản HĐHB Paris 1973, nhất là Chương IV Điều 9, 10, 11, 12, 13, 14 và Chương V Điều 15 để rõ sự gian xảo, lường gạt của CSVN. Nguyễn Hữu Hạnh phải thấy Nguyễn Văn Đông đã mạnh mẽ chứng minh rằng CSVN thất bại trong chính sách quốc gia hoà giải, dân tộc hoà hợp ở Việt Nam, và Nguyễn Hữu Hạnh nên mạnh dạn nói lên việc này vì lng tự trọng của chính Nguyễn Hữu Hạnh.

Vào lúc 9 giờ rưởi sáng ngày 30/4/1975 TT VNCH Dương n Minh tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn, “Đường lối của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc......”  VNCH và CPCMLTCHMNVN thương lượng hoà bình với nhau. Nhưng CSBV đã lật lọng cưỡng chiếm nước VNCH và loại bỏ CPCMLTCHMNVN, một trong số nhiều người trong CPCMLTCHMNVN bất mãn CSBV là Bác Sĩ Trương Như Tảng rời bỏ VN đi Pháp.  Riêng bNgoại Trưởng Nguyễn Thị Bình đã nói khi còn ở Paris, “Miền Nam VN sẽ độc lập, trung lập trong 10 năm, thời gian này chờ hiệp thương thống nhất hai miền Nam-Bắc VN; vì câu nói này mà những năm sau 1976 bà không được CSBV coi trọng mặc dù cho bà chức Phó Chủ Tịch Quốc Hội, có hình thức không có thực chất.  Rất rõ ràng CSBV không tôn trọng hiệp định hoà bình, không muốn quốc gia VN tòan quốc hoà giải, các dân tộc sinh sống tại VN được hoà hợp theo tinh thần của HĐHB Paris 1973.
Thời gian gần đây CSVN còn mượn cái miệng của Nguyễn Hữu Hạnh để nói hoà giải quốc gia, hoà hợp dân tộc trong khi CSVN lợi dụng chiêu bài này để tiếp tục lường gạt người VN.  Nguyễn Hữu Hạnh đúng là một lịch sử dối trá của CSVN.  Chúng ta hãy nghe chính miệng Nguyễn Hữu Hạnh nói về ngày 29, 30/4/1975 như sau, Hồi ấy tôi 52 tuổi, không hiểu chuyện đời thế nào, chỉ nói, cứ vô đây, tôi giao Sài Gòn - Chợ Lớn cho mấy anh.”  
Với một người biết nói tiếng Pháp, có bằng Tú Tài Pháp, tốt nghiệp trường sĩ quan Cape Saint Jacques năm 1949, từng đi Mỹ học khoá Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp, Phó Tư Lệnh Sư Đoàn 21, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 4, Phó Tư Lệnh Quân Đoàn 4, Phó Tư Lệnh Quân Đoàn 2, mà bây giờ lại có thể nói “hồi ấy (năm 1975) tôi 52 tuổi, không hiểu chuyện đời thế nào...”, CSVN đã thành công tẩy não Nguyễn Hữu Hạnh hay đã bịt miệng Nguyễn Hữu Hạnh không cho nói sự thật để VC có thể sửa đổi lịch sử cho đúng với sự lường gạt lịch sử của VC, hay chính Nguyễn Hữu Hạnh đã khôn khéo dùng “đảo-ngữ-nói-xỏ-xiêng-chưởi-rủa-chính-mình” (?)
Bây giờ Nguyễn Hữu Hạnh chỉ nói được câu, “hồi ấy tôi 52 tuổi, không hiểu chuyện đời thế nào....” đúng là một “tướng già giả nai ngây thơ” hay “tướng già quá dại” bị CSVN lường gạt mà không biết. Nguyễn Hữu Hạnh đã hơn 90 tuổi vẫn không biết “quốc gia hòa giải không phải chỉ vỏn vẹn gồm có người Việt theo lập trường cộng sản với người Việt theo lập trường quốc gia, mà còn có những người Việt theo lập trường chính trị khác, họ bất đồng chính kiến với cả cộng sản lẫn quốc gia. Trường hợp Nguyễn n Đông có lập trường dân tộc thuần túy, đã bị CSVN cầm tù 10 năm. Hiện nay ở trong nước VN có rất đông người VN có lập trường dân tộc thuần túy đang bị CSVN giam cầm. 
Quả thật Nguyễn n Đông cho tới chết vẫn ở lại VN không đi định cư ở Mỹ, ở Pháp một cách đường hoàng chính thức cho dù chính phủ Pháp và chính phủ Mỹ đã nhiều lần trân trọng gởi thơ mời; Nguyễn Văn Đông đã mạnh mẽ nói rõ Nguyễn n Đông không theo Mỹ theo Pháp. Một người có tinh thần dân tộc thuần túy, nhân bản, không vọng ngoại, không nuôi lòng hận thù, không nợ máu với VC, và yêu quê hương VN chân thành; thế mà CSVN cầm tù Nguyễn Văn Đông 10 năm. Việc cầm tù Nguyễn n Đông 10 năm đúng là chính sách thất bại của CSVN./.
Nguyễn Thành-Trí, Sài Gòn ngày 26/3/2018 một tháng sau khi Nguyễn Văn Đông vĩnh biệt chúng ta.

Thứ Tư, 31 tháng 1, 2018

AI LÀ ANH HÙNG DÂN TỘC VIỆT NAM

AI LÀ ANH HÙNG DÂN TỘC VIỆT NAM
KỶ NIỆM 45 NĂM HIỆP ĐỊNH HOÀ BÌNH PARIS 1973 27/1/1973 – 27/1/2018


Hiệp Định Hoà Bình Paris 1973 đã thực sự được bốn bên Mỹ, VNCH, CSBV, Việt Cộng Miền Nam chính thức ký kết vào ngày 27/1/1973; trên nguyên tắc bốn bên phải nghiêm chỉnh thi hành hiệp định hoà bình.  Chỉ có Mỹ thi hành chấm dứt chiến tranh VN, còn ba bên kia là người VN thì không.  Nói về vấn đề vi phạm hiệp định hoà bình, cả ba bên VNCH, CSBV, Việt Cộng Miền Nam đều đã vi phạm; cho nên Uỷ Ban Quốc Tế Giám Sát Thi Hành Hiệp Định ở miền Nam VN đã làm việc không có kết quả.  
Bởi vì TT Thiệu không tôn trọng hiệp định hòa bình, chủ động từ chối thành lập Hội Đồng Quốc Gia Hoà Giải Hoà Hợp Dân Tộc Việt Nam ngay từ đầu, nên trên mặt trận chính trị VNCH đã bị bế tắt.  TT Thiệu đã ích kỷ, độc tài, lo sợ, và nghi kỵ người khác cho dù là người quốc gia VNCH.  Nếu bầu cử ứng cử tự do thì Thiệu lo sợ bị thất cử. Thiệu lo sợ bị mất chức tổng thống.  TT Thiệu phải liên hiệp các đảng phái quốc gia và những người Việt quốc gia VNCH trong một chính phủ VNCH liên hiệp, đoàn kết quốc gia, nhưng TT Thiệu đã không làm được như vậy. TT Thiệu nhìn người nào cũng thành ra Việt Cộng, nên TT Thiệu không chịu có một chính phủ VNCH liên hiệp.  Ở đây phải nói cho rõ là liên hiệp các đảng phái quốc gia VNCH chống lại Việt Cộng Miền Nam.
Sau năm 1973 trên mặt trận chính trị TT Thiệu đã làm hỏng kế hoạch hoạt động bầu cử ứng cử tự do ở miền Nam của Mỹ trong cuộc tổng tuyển cử ở miền Nam VN. TT Thiệu nhất định không chịu thành lập Hội Đồng Quốc Gia Hòa Giải Hoà Hợp Dân Tộc (HĐQGHGHHDT) vì cho rằng việc thành lập hội đồng này là liên hiệp với cộng sản.  Trong trường hợp hội đồng HĐQGHGHHDT được thành lập thì phía VNCH TT Thiệu là người nắm phần chủ động chính yếu, vì VNCH là thành phần có đủ khả năng ở miền Nam đứng ra tổ chức thành lập hội đồng.  Và TT Thiệu vẫn còn nắm trọn được quyền lực quân sự và chính trị của mình cho tới ngày tổng tuyển cử ở miền Nam VN.  Nhưng TT Thiệu đã không hiểu như vậy; Thiệu lo sợ bị thất cử, lo sợ bị mất chức tổng thống.  
Bởi vì TT Thiệu không tôn trọng hiệp định hòa bình, chủ động từ chối thành lập Hội Đồng Quốc Gia Hoà Giải Hoà Hợp Dân Tộc Việt Nam ngay từ đầu, nên trên mặt trận chính trị VNCH đã bị bế tắt.  TT Thiệu đã ích kỷ, độc tài, lo sợ, và nghi kỵ người khác cho dù là người quốc gia VNCH.  Nếu bầu cử ứng cử tự do thì Thiệu lo sợ bị thất cử. Thiệu lo sợ bị mất chức tổng thống.  
TT Thiệu phải liên hiệp các đảng phái quốc gia và những người Việt quốc gia VNCH trong một chính phủ VNCH liên hiệp, đoàn kết quốc gia, nhưng TT Thiệu đã không làm được như vậy. TT Thiệu nhìn người nào cũng thành ra Việt Cộng, nên TT Thiệu không chịu có một chính phủ VNCH liên hiệp.  Ở đây phải nói cho rõ là liên hiệp các đảng phái quốc gia VNCH chống lại Việt Cộng Miền Nam.
Sau năm 1973 trên mặt trận chính trị TT Thiệu đã làm hỏng kế hoạch hoạt động bầu cử ứng cử tự do ở miền Nam của Mỹ trong cuộc tổng tuyển cử ở miền Nam VN. TT Thiệu nhất định không chịu thành lập Hội Đồng Quốc  ành phần có đủ khả năng ở miền Nam đứng ra tổ chức thành lập hội đồng.  Và TT Thiệu vẫn còn nắm trọn được quyền lực quân sự và chính trị của mình cho tới ngày tổng tuyển cử ở miền Nam VN.  
Nhưng TT Thiệu đã không hiểu như vậy; Thiệu lo sợ bị thất cử, lo sợ bị mất chức tổng thống.  TT Thiệu cố giữ lấy chức tổng thống cho tới ngày Mỹ không thoả mãn yêu cầu của TT Thiệu rãi thảm bom B52 trên các sư đoàn CSBV hiện đồn trú dưới vĩ tuyến 17 miền Nam VN, và cuối cùng Thiệu phải từ chức vào ngày 21/4/1975. 
Nhiều người Miền Nam VN đã kết án Mỹ phản bội đồng minh VNCH, nhưng họ không hiểu vì lúc đó năm 1973 họ đã không được biết nội dung bản Hiệp Định Hoà Bình Paris 1973 ra sao.  Đổi lấy việc duy trì TT Thiệu ở chức vụ tổng thống lãnh đạo VNCH cho tới ngày tổng tuyển cử ở miền Nam VN bằng các sư đoàn CSBV ở dưới vĩ tuyến 17 không rút về miền Bắc. 
Mỹ đã để lại rất nhiều đủ loại phương tiện quân sự cho VNCH.  Cụ thể là 114 chiếc máy bay phản lực chiến đấu cơ F5A, và A37, nhiều xe tăng M113, M41A3, M48A3, nhiều súng đại bác 105 ly, 155 ly, hơn một triệu súng trường M16, súng phóng lưụ M79, súng phóng hoả tiển chống xe tăng M72, quân trang quân dụng, và trang thiết bị, vân vân …còn mới nguyên cho Quân Đội VNCH.  
Trong lúc đó các sư đoàn CSBV phải đồng hoá bộ đội cộng sản miền bắc nguỵ trang làm lực lượng quân sự Việt Cộng Miền Nam.  Bằng chứng rõ ràng khi các xe tăng và bộ đội CSBV di chuyển về các tỉnh thành của VNCH đều phải che đậy nguồn gốc bằng cách treo cờ Việt Cộng Miền Nam, lá cờ nửa xanh nửa đỏ sao vàng chứ không phải cờ đỏ sao vàng CSBV.  
Trước khi phải từ chức vào ngày 21/4/1975 TT Thiệu đã yêu cầu Mỹ giải quyết hết các sư đoàn CSBV đang ở dưới vĩ tuyến 17 bằng những chuyến bay B52, nhưng Mỹ không đáp ứng yêu cầu của TT Thiệu; vì nếu rãi thảm bom B52 trên các sư đoàn CSBV vào thời gian tháng 4/1975 là Mỹ rõ ràng vi phạm Hiệp Định Hoà Bình Paris 1973. 
Sau khi TT Thiệu từ chức vào ngày 21/4/1975, bàn giao chính phủ VNCH cho PTT Trần Văn Hương và Th.T Nguyễn Bá Cẩn, nhưng đến ngày 25/4/1975 Nguyễn Bá Cẩn cũng xin từ chức thủ tướng.  TT Hương làm tổng thống chỉ trong 7 ngày kể từ 21/4/1975 đến ngày 28/4/1975 phải bàn giao lại cho Tướng Dương Văn Minh vì phía CSBV và Việt Cộng Miền Nam không muốn thương lượng hòa bình với TT Hương, vì chính TT Hương đã chấp thuận cho KQVNCH, với sự kín đáo trợ giúp kỷ thuật của chuyên viên Mỹ, đã bỏ vài trái bom CBU-55 và BLU-82 ở Xuân Lộc và các vùng phụ cận trên đầu của bộ chỉ huy sư đoàn 341 CSBV làm thiệt mạng năm, sáu trăm bộ đội CSBV.  Vì vậy CSBV chỉ muốn nói chuyện với một tổng thống VNCH có thể thương lượng hoà bình, mà không phải TT Hương.  
Cuối cùng Quốc Hội VNCH vào ngày 28/4/1975 phải chọn TT Dương Văn Minh, và ngày 29/4/1975 ông Vũ Văn Mẫu lên làm thủ tướng VNCH chỉ một ngày, thì đúng vào ngày 29/4/1975 đã bất ngờ ra lệnh yêu cầu tất cả người Mỹ phải đi khỏi nước VNCH trong thời hạn 24 giờ đồng hồ, để người VN tự giải quyết vấn đề chính trị với nhau.  
Khi tất cả người Mỹ đi hết, xong rồi vào ngày kế tiếp 30/4/1975, VNCH đầu hàng CSBV. Ông Vũ Văn Mẫu mới thực sự là người có công lớn đã có đủ quyền lực đuổi tất cả người Mỹ ra khỏi nước VNCH trong thời hạn một ngày, không tốn một viên đạn, không chết một người VN nào; chiến công hiển hách này đúng là của ông Vũ Văn Mẫu, sự thật rõ ràng không phải của những người CSVN.
Sau khi bắt buộc TT Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện, huỷ bỏ Chính Phủ VNCH, giải tán QLVNCH; CSVN có một cơ hội ngàn vàng để thực hiện chính sách Hoà Giải Quốc Gia, Hoà Hợp Dân Tộc Việt Nam, một chính sách thực sự đúng đắn giúp toàn dân VN hàn gắn vết thương chiến tranh, triệt để xoá bỏ thù hận lẫn nhau, mạnh mẽ kết nối lại tình thương yêu, quí trọng lẫn nhau, không phân biệt đối xử kỳ thị bạn-thù, hoàn toàn không trả thù, không trả oán cá nhân. 
Nếu sau khi nước VN được thống nhất, CSVN đã thành tâm thiện chí thực hiện chính sách toàn quốc hoà giải, tất cả các dân tộc hoà hợp, thì CSVN thực sự đã trở thành anh hùng dân tộc Việt Nam.  
Nhưng trên thực tế CSVN đã làm mất cơ hội ngàn vàng này! 
Vì họ đã làm ngược lại tinh thần nhân ái cao quí của nhân dân Việt Nam.  Họ đã không “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” vì nguyên nhân CSVN đã làm tay sai cho Liên Sô, Trung Cộng; có một bằng chứng rõ ràng CSVN làm tay sai cho Liên Sô, Trung Cộng qua lời tuyên bố của Lê Duẩn đã nói “CSVN đánh Mỹ là đánh cho Liên Sô, Trung Cộng” nên họ không muốn quốc gia Việt Nam được hoà giải, các dân tộc đang sinh sống ở Việt Nam được hoà hợp.  Nhất là Trung Cộng đã khống chế CSVN để dễ dàng phân hoá nước VN, xâm chiếm Biển Đông của VN và cả khu vực Đông Nam Á.
Vì thế, CSVN dùng chiêu bài đại đoàn kết dân tộc để tuyên truyền giảo biện, mị dân, lừa gạt người dân Việt Nam.  CSVN đã thực hiện những chính sách trả thù, phân biệt đối xữ với ngay cả đồng bào của mình, làm cho cả xả hội Việt Nam bị phân hoá trầm trọng kéo dài cho tới nay. 
CSVN đã tuyên truyền rằng Hiệp Định Hoà Bình Paris 1973 là một thắng lợi to tác, đầy ý nghĩa của CSVN để chấm dứt Chiến Tranh Việt Nam, nhưng chính họ thực sự đã không tôn trọng hiệp định, không thành tâm thiện chí thi hành hiệp định; một điểm nhấn mạnh cụ thể là họ cố tình không biết tới Chương IV Điều 9, 10, 11, 12, 13, 14, và Chương V Điều 15 của Hiệp Định Hoà Bình Paris 1973 có ý nghĩa rất quan trọng đối với người dân VN. 
Trên quan điểm dân tộc, CSVN đã bỏ qua một cơ hội ngàn vàng để thực sự giành lấy độc lập dân tộc, thoát ra khỏi sự lệ thuộc Liên Sô và Trung Cộng vào thời điểm năm 1975 để trở thành một quốc gia hoà bình, trung lập không bị ảnh hưởng bởi Mỹ-Nga-Tàu, một quốc gia Việt Nam đủ mạnh để giữ vững nền hoà bình, trung lập thực sự ở khu vực Đông Nam Á.  Nếu được như vậy, có lẽ Trung Cộng không thể chiếm hết Biển Đông của VN như ngày nay.
Chế độ cộng sản chuyên quyền độc tài thì không muốn có hoà giải quốc gia, hoà hợp dân tộc. Sau năm 1975 và cho tới nay, CSVN đã làm mất một cơ hội ngàn vàng là CSVN đã không thành lập Hội Đồng Quốc Gia Hoà Giải Hoà Hợp Dân Tộc Việt Nam, hay một tổ chức gì đó tương tự như một hội đồng toàn quốc, một uỷ ban toàn quốc để hoà giải tất cả sự bất đồng ý kiến chính trị hiện có trong nước Việt Nam, và hoà hợp tất cả các dân tộc đang sinh sống trong nước Việt Nam không phân biệt đối xử chủng tộc.  
Cũng có một số người VN đã cố ý hiểu sai “hoà giải quốc gia chỉ hoà giải giữa người có lập trường cộng sản với người có lập trường quốc gia; họ đã phủi bỏ nhiều người VN có những lập trường chính trị khác và bất đồng chính kiến với họ” Như vậy, nước VN hiện nay rất cần sự hoà giải tất cả bất đồng chính kiến và một thể chế đa đảng mới chấm dứt chế độ độc tài thống trị. Nhân Dân Việt Nam rõ ràng không thích, không chấp nhận bất cứ loại chế độ độc tài nào, độc tài tư bản cũng như độc tài cộng sản.
Nói trở lại Hiệp Định Hoà Bình Paris 1973, nếu VNCH TT Thiệu đã tuyên bố tôn trọng hiệp định hoà bình, nghiêm chỉnh thi hành hiệp định, thì việc xảy ra đã hoàn toàn khác hơn việc TT Thiệu phải từ chức, VNCH không mất miền Nam.  Vì khi VNCH tôn trọng hiệp định thì Mỹ đã có thể trả đũa mạnh mẽ mỗi khi CSVN vi phạm hiệp định. Thí dụ điển hình là trận ném bom Giáng Sinh 1972 ở Hà Nội đã làm cho CSBV bị kiệt quệ nên mau lẹ ký kết hiệp định hoà bình. 
Trên thực tế TT Thiệu đã làm mất cơ hội ngàn vàng để TT Thiệu lưu danh trong lịch sử Việt Nam là một anh hùng dân tộc Việt Nam có công lao làm cho quốc gia Việt Nam thực sự được hoà giải mọi bất đồng chính kiến, tất cả các dân tộc ở Việt Nam được hoà hợp lâu dài. TT Thiệu đã hiểu sai ý nghĩa cao quí của Hội Đồng Quốc Gia Hoà Giải Hoà Hợp Dân Tộc Việt Nam nên ngay từ đầu TT Thiệu đã từ chối hiệp định hoà bình.  
Hiệp Định Hoà Bình Paris 1973 là để chấm dứt chiến tranh VN lập lại hoà bình ở Việt-Miên-Lào, nhưng CSVN cũng như TT Thiệu đã không tôn trọng hiệp định hoà bình và cứ tiếp tục có những hành động quân sự đánh nhau cho tới ngày 30/4/1975.  
Sau năm 1975 trên thực tế cuộc nội chiến giữa CSVN và Nhân Dân Việt Nam cho tới bây giờ chưa chấm dứt! Vì CSVN vẫn còn độc đảng, độc tài thống trị; không chấp nhận đa đảng, có bất đồng chính kiến, có đối lập chính trị ở Việt Nam. Điều này chứng tỏ suốt 45 năm sau Hiệp Định Hoà Bình Paris 1973 CSVN vẫn chủ trương quốc gia VN không có hoà giải. CSVN vẫn chủ trương gây nội chiến chống lại Nhân Dân Việt Nam.
Tóm lại, kỷ niệm 45 năm Hiệp Định Hòa Bình Paris 1973 và lần đầu tiên ở VN có danh hiệu Hội Đồng Quốc Gia Hoà Giải Hoà Hợp Dân Tộc Việt Nam, nhưng vào năm 1973 kéo dài tới nay năm 2018 rất nhiều người VN vẫn còn không biết danh hiệu này, HỘI ĐỒNG QUỐC GIA HOÀ GIẢI HOÀ HỢP DÂN TỘC VIỆT NAM.  Như vậy, AI? người VN sẽ là anh hùng dân tộc VN làm được công cuộc thực sự quốc gia hoà giải và các dân tộc hoà hợp ở nước VN./.

Nguyễn Thành-Trí, Sài-Gòn 27/1/2018  
Kỷ Niệm 45 Năm Hiệp Định Hoà Bình Paris 1973

Thứ Năm, 14 tháng 12, 2017

NHIỀU ÔNG LỚN MỸ BỊ TÌNH DỤC NỔ TUNG

NHIỀU ÔNG LỚN MỸ BỊ TÌNH DỤC NỔ TUNG
(Hình bìa của Tạp Chí Newsweek)
Dr. Tristan Nguyen – Washington, DC
Phong Trào “#MeToo - #TôiNữa” là một đợt sóng cuồng nộ đang dâng cao để nhận chìm những tai-to và là một cơn gió nóng bỏng đang thổi rám rát những mặt-lớn của xã hội Mỹ từ kỷ nghệ điện ảnh giải trí đến cả hai giới truyền thông và chính trị ở hai sân khấu thượng-hạ viện làm cho nhiều Ông Lớn Mỹ Bị Tình Dục Nổ Tung.

Tạp chí TIME đã chọn bầu nữ ca nhạc sĩ nổi tiếng Taylor Swift, nữ diễn viên điện ảnh Ashley Judd, nữ công nhân hái trái dâu tây Isabel Pascual, nữ vận động hành lang Adama Iwu, và nữ kỷ sư công ty Uber Susan Fowler làm “Person Of The Year 2017 - Người Của Năm 2017” hay còn gọi họ là “Những Người Phá Vỡ Sự Im Lăng – Silence Breakers” ở nước Mỹ và toàn thế giới. Họ đại diện cho người Phụ Nữ Mỹ Bị Hại và họ đã góp công gây nên một phong trào của người Phụ Nữ Mỹ có can đảm nói ra những sự thật về việc họ đã bị người Đàn Ông Mỹ ỷ lại vào chức vụ, cấp bậc cao hơn nên có hành động sàm sỡ sờ sẫm, cử chỉ dê xồm tục tỉu ở nơi làm việc, hay quấy nhiễu tình dục, hoặc hãm hiếp ở phòng nghỉ, nhà riêng mà không có sự đồng ý của họ. Những người phụ nữ bị xâm hại tình dục đã không kịp thời công khai phản đối, vì họ bị ràng buộc bởi công việc, họ sợ bị đuổi việc, sợ mang tiếng con gái bị hãm hiếp thất tiết khiến gia đình họ phải mất danh dự, sợ khi nói ra chuyện họ bị làm nhục như vậy thì không ai tin mình vì đối phương làm nhục mình là một người có chức có quyền đương thời trong xã hội Mỹ hiện tại.

Những chuyện xâm hại tình dục này thực sự đã xảy ra bốn, năm chục năm về trước khi nạn nhân còn là những cô bé 14, 15 tuổi; những nữ diễn viên trẻ đẹp 18, 20 tuổi mới bước chân vào ngành điện ảnh lúc 20 hay 10 năm trước, nên họ rất cần được sự chiếu cố của đạo diễn, của nhà sản xuất phim, cần sự nâng đỡ giới thiệu trong giải thưởng Oscar; họ cũng là những nữ ký giả trẻ cộng sự chưa kinh nghiệm trong kỷ nghệ truyền thông Mỹ.  Phần đông những người phụ nữ nạn nhân bây giờ 50, 60 tuổi và ngoài những minh tinh có sắc đẹp ngày càng lộng lẫy thì nhan sắc của người bình thường đang tới thời kỳ đầu mùa thu; trong khi các Ông Lớn Mỹ ngày càng tăng quan tiến chức, càng có nhiều tiền thì càng có nhiều quyền ở mọi lãnh vực của xã hội Mỹ, đó là một thực tế không thể bàn cãi khác hơn.

Nhưng đã nổ ra vụ nữ ca nhạc sĩ danh tiếng Taylor Swift hồi năm 2013 đứng chụp ảnh chung với nam DJ David Mueller đã bị anh này nổi máu dê xồm đưa tay bóp đít. Taylor Swift không để mặc cảm xấu hổ bị làm nhục mà im lặng nên Taylor Swift công khai chuyện bị bóp đít và thưa DJ Mueller ra toà trong khi đó DJ Mueller đã bị đài phát thanh Thành Phố Denver cho nghỉ việc.  Ở phiên xử ngày 14/8/2017, Taylor Swift chỉ muốn DJ Mueller phải xin lỗi và bị phạt phải trả cho Taylor Swift 1 đôla danh dự.  Cứ tưởng chuyện bóp đít của Taylor Swift là một chuyện nhỏ, người xâm phạm tình dục bị phạt nhẹ nhàng xin lỗi và 1 đôla danh dự là xong chuyện rồi; không ngờ nó lại là ngòi nổ của một trái bom TNT ngàn tấn làm rung rinh tòa Quốc Hội Liên Bang Mỹ cũng như các toà Quốc Hội Tiểu Bang và kể cả Nhà Trắng; kỷ nghệ điện ảnh Hollywood Mỹ; kỷ nghệ truyền thông Mỹ; các viên chức cao cấp tiểu bang; các ông chủ công ty, xí nghiệp cũng bị trước sau nối tiếp nhau nổ tung.  

Có thể nói chung là ở hầu hết mọi lãnh vực làm việc của xã hội Mỹ vấn đề xâm phạm tình dục đã từng xảy ra một trăm năm, một chục năm, một tuần, một ngày, vừa qua!  Có vụ thì nạn nhân bị bịt miệng không nói nên lời nhưng không nguôi căm hận, có vụ thì nạn nhân thưa kiện nhưng giải quyết kín đáo bên ngoài toà án và được bồi thường một số tiền rồi hai bên vui lòng như không chuyện gì xảy ra, có vụ thì nạn nhân cảm thấy mình còn nhỏ bé, cô độc, bơ vơ vì không ai tin chuyện mình bị người lớn làm nhục.

Hiện nay Phong Trào #MeToo - #TôiNữa chẳng những đang dậy sóng-gió ở nước Mỹ mà nó còn lan tràn sang các nước Châu Âu, Châu Úc, và Châu Á, vì nó đích thực là một phong trào người phụ nữ giành lại, giữ lấy phẩm giá đức hạnh của mình.  Họ không để cho người đàn ông xem thường họ như những món đồ chơi, họ bắt người đàn ông phải xin lỗi vì đã cư xử không tốt với họ; vì nếu người vợ không vui lòng đồng ý làm chuyện ấy ấy thì người chồng chớ có ỷ quyền nằm đè lên mà phải bị toà án buộc tội hiếp dâm vợ mình; vì thực sự hiện nay nam-nữ chưa được bình quyền; vì ở chỗ làm việc còn trọng-nam-khinh-nữ và tiền lương của một chức vụ giống nhau nhưng lương của nam nữ chưa được bằng nhau. Và nhất là họ muốn nhắc nhở, nhấn mạnh rằng khi thấy bất cứ người phụ nữ mặc y phục hở hang khoe sắc đẹp, vì một phụ nữ luôn luôn muốn phô bày sắc đẹp của mình ra cho mọi người khác chiêm ngưỡng, thì đừng động lòng dâm dục nổi máu dê xồm hai tay rờ rẫm sờ sẫm, kết quả không kể làm chức vụ gì cũng vào ngồi tù là chắc chắn!  

Vì những lý lẽ trên, tạp chí TIME khi bầu chọn những người Phụ Nữ Mỹ can đảm nói ra và chia sẻ những câu chuyện của họ đã bị hãm hiếp, quấy nhiễu tình dục, phá huỷ trinh tiết, đủ thứ khía cạnh của vấn đề xâm phạm tình dục mà người Đàn Ông Mỹ gây ra cho họ, tạp chí TIME đã gọi họ là “Những Người Phá Vỡ Sự Im Lặng – Silence Breakers” hoặc là “Person Of The Year 2017 - Người Của Năm 2017”.  Quả thật những Ông Lớn Mỹ bị trái bom tình dục nổ tung tiêu biểu là: 

(1) ông trùm kỷ nghệ điện ảnh và nhà sản xuất phim Hollywood tên Harvey Weinstein với 19 cô đào trẻ đẹp tố cáo Weinstein đã xâm hại tình dục họ;

(2) giới truyền thông Mỹ có nam ký giả kỳ cựu danh tiếng Charlie Rose của đài CBS News và PBS, nam ký giả Matt Lauer người hướng dẫn chính chương trình buổi sáng Today Show của đài NBC; hai người này bị những nữ cộng sự viên tố cáo là đã có những cử chỉ và hành vi tình dục không thích hợp ở nơi làm việc, dẫn tới kết quả cả hai đều bị ban giám đốc đài truyền hình cho nghỉ việc; 

(3) giới lập pháp Mỹ có Dân Biểu Hạ Viện tên John Conyers của tiểu bang Michigan và Thượng Nghị Sĩ Thượng Viện tên Al Franken của tiểu bang Minnesota, họ bị tố cáo là đã có cử chỉ tục tỉu, hành vi kém đạo đức với phụ nữ, trong khi những người có chức vụ dân cử phải giữ tác phong, tư cách tiêu chuẩn đạo đức cao; kết quả là cả hai ông này đều phải từ chức; 

(4) mới đây vào ngày thứ Ba 12/12/2017 trong cuộc bầu cử đặc biệt của tiểu bang Alabama để bầu thượng nghị sĩ đại diện cho tiểu bang ở Quốc Hội Mỹ, ứng cử viên của Đảng Cộng Hoà là chánh án Roy Moor bị những người phụ nữ ở Alabama tố cáo Moor đã làm nhục họ mấy chục năm trước, lúc đó họ còn tuổi vị thành niên và Moor 32 tuổi làm luật sư, vì những cáo buộc này của nạn nhân làm cho Roy Moor bị thất cử thượng nghị sĩ vào Thuợng Viện Mỹ. Người dân tiểu bang Alabama không muốn một người kém đạo đức mất tư cách như Roy Moor làm đại diện của họ: 

(5) còn có một Ông Lớn Nhất Nước Mỹ là Donald Trump đã bị 16 người Phụ Nữ Mỹ cáo buộc tội xâm phạm tình dục vào thời gian trước khi làm tổng thống Mỹ. Trump cãi chối tất cả cáo buộc này, Trump nói không hề quen biết những người nữ này và cho rằng họ tố cáo Trump vì có động lực chính trị; tuy nhiên, vấn đề Xâm Phạm Tình Dục làm gì có tính chính trị.

Những người Phụ Nữ Mỹ Bị Hại này đã yêu cầu Quốc Hội Mỹ điều tra về việc khiếu kiện của họ bị Trump xâm phạm tình dục và chắc chắn rằng họ sẽ không bị bịt miệng; họ yêu cầu Danh Dự và Công Lý phải được trả lại cho họ./.

Dr. Tristan Nguyễn – Washington, DC 14/12/2017

(Hình bìa của Tạp Chí Newsweek) 

Thứ Ba, 5 tháng 12, 2017

Ý ĐỒ VÀ DÃ TÂM CỦA BÙI HIỀN

Ý ĐỒ VÀ DÃ TÂM CỦA BÙI HIỀN
BÙI HIỀN ĐÃ ĂN CẮP
SẢN PHẨM TRÍ TUỆ CỦA NGUYỄN VĂN KHÔN
Ở SÀI GÒN TRƯỚC NĂM 1975




BẰNG CHỨNG BÙI HIỀN ĐàĂN CẮP SẢN PHẨM TRÍ TUỆ CỦA HOC GIẢ NGUYỄN VĂN KHÔN
Bùi Hiền không có phát minh, sáng kiến gì cả, vì Bùi Hiền rõ ràng đã ăn cắp vài dấu ký âm trong công trình tự điển của học giả Nguyễn Văn Khôn ở thời kỳ Miền Nam VNCH mấy chục năm trước 1975 còn có bằng chứng trên giấy trắng mực đen như sau:

VIỆT – ANH ANH - VIỆT TỪ ĐIỂN LOẠI THÔNG DỤNG
TÁC GIẢ NGUYỄN VĂN KHÔN
DO NHÀ SÁCH KHAI TRÍ ẤN HÀNH
LẦN THỨ NHẤT XONG NGÀY 14-4-1967
TẠI NHÀ IN RIÊNG CỦA NHÀ XUẤT BẢN.
GPKD SỐ 987 TBTTCB/BC3/XB NGÀY 6-4-1967

Sản phẩm trí tuệ của học giả Nguyễn Văn Khôn đã có 50 năm tuổi.  Nó trân trọng ra mắt mọi người Việt Nam ở Miền Nam VNCH vào ngày 14/4/1967 tại Sài Gòn.  Nhà Sách KHAI TRÍ đã bán rất chạy cuốn tự điển của Nguyễn Văn Khôn vì rất nhiều người Miền Nam Việt Nam lúc đó đã rất ham thích học tiếng Anh.

Người trí thức, cho dù là trí thức cộng sản hay trí thức tự do không cộng sản, cũng phải có lòng tự trọng trí thức, không nên ăn cắp sản phẩm trí tuệ của người khác, không nên cướp công lao động trí óc của người khác;  tuyệt đối không được làm như vậy.  Ở Việt Nam còn có bao nhiêu vụ ăn cắp sản phẩm trí tuệ khác nữa, mà hiện nay chưa bị phát hiện!
Bây giờ Bùi Hiền đã làm như vậy rồi, thật là đáng tiếc.

Nhưng ý đồ và dã tâm của Bùi Hiền rất lớn, cũng như cái tội của Bùi Hiền vô cùng lớn đối với đất nước và người dân Việt Nam.  Bởi vì Bùi Hiền muốn làm xáo trộn một hệ thống đã hoàn chỉnh chữ viết, qui tắc chính tả, và văn phạm tiếng Việt; Bùi Hiền muốn huỷ bỏ một kho tàng văn học đồ sộ và nền văn chương rất phong phú của nước Việt Nam.

Điểm quan trọng nhất là Bùi Hiền làm cho thế hệ tương lai người Việt không đọc được sách lịch sử của dân tộc Việt Nam, việc này có kết quả là người Việt Nam mất nguồn gốc trên chính quê hương của mình. Cả một dân tộc bị mất nguồn gốc thì dễ dàng bị Tàu Cộng đồng hoá và đô hộ.  Bùi Hiền có tội rất lớn với đất nước và nhân dân Việt Nam.

Nguyễn Thành-Trí - Sài Gòn, ngày 5/12/2017



Thứ Hai, 4 tháng 12, 2017

ĐỪNG LÀM NGHÈO TIẾNG VIỆT


ĐỪNG LÀM NGHÈO TIẾNG VIỆT
Bùi Hiền
Nguyễn Thành-Trí, Sài Gòn - Chúa Nhật 3/12/2017

Bùi Hiền (BH) không có phát minh, sáng kiến gì cả, vì BH rõ ràng đã ăn cắp vài dấu ký âm trong công trình tự điển của “Tiền Bối Nguyễn Văn Khôn” ở thời kỳ Miền Nam VNCH mấy chục năm trước 1975 còn có bằng chứng trên giấy trắng mực đen như sau: VIỆT – ANH ANH - VIỆT TỪ ĐIỂN LOẠI THÔNG DỤNG TÁC GIẢ NGUYỄN VĂN KHÔN DO NHÀ SÁCH KHAI TRÍ ẤN HÀNH LẦN THỨ NHẤT XONG NGÀY 14-4-1967 TẠI NHÀ IN RIÊNG CỦA NHÀ XUẤT BẢN. GPKD SỐ 987 TBTTCB/BC3/XB NGÀY 6-4-1967

Mục đích cải cách chữ quốc ngữ Việt, hay tiếng Việt, là làm cho tiếng Việt đơn giản, dễ nói, dễ nghe, dễ viết, dễ hiểu; chẳng những cho mọi người Việt trong nước và ở hải ngoại mà còn cho bất cứ người ngoại quốc nào muốn học tiếng Việt. Tuy nhiên, không phải vì muốn tiếng Việt trở nên đơn giản mà làm cho tiếng Việt thành ra kệch cỡm, khó nghe, khó nói do thiếu sự phối hợp hài hoà giữa các ngữ tố, ngữ âm hay âm tiết trong một ngữ cảnh, và gây khó khăn trong việc viết đúng chính tả và đúng ngữ pháp tiếng Việt. Hơn nữa Bùi Hiền (BH) không có phát minh, sáng kiến gì cả, vì BH rõ ràng đã ăn cắp vài dấu ký âm trong công trình tự điển của “Tiền Bối Nguyễn Văn Khôn” ở thời kỳ Miền Nam VNCH mấy chục năm trước 1975 còn có bằng chứng trên giấy trắng mực đen như sau: VIỆT – ANH ANH - VIỆT TỪ ĐIỂN LOẠI THÔNG DỤNG TÁC GIẢ NGUYỄN VĂN KHÔN DO NHÀ SÁCH KHAI TRÍ ẤN HÀNH LẦN THỨ NHẤT XONG NGÀY 14-4-1967 TẠI NHÀ IN RIÊNG CỦA NHÀ XUẤT BẢN. GPKD SỐ 987 TBTTCB/BC3/XB NGÀY 6-4-1967

Sau đây chúng ta hãy xem xét cái kiểu viết chữ quốc ngữ Việt, hay tiếng Việt, do ông PGS.TS. Bùi Hiền (BH), nguyên Hiệu Phó trường ĐHSP Ngoại Ngữ Hà Nội, vừa phát minh và đề xuất cải cách!  Tiếng Việt thường phát âm như thế nào thì viết ra như thế nấy, vì ngay từ đầu người sáng tạo ra chữ quốc ngữ Việt đã cố gắng sử dụng các mẫu tự Latinh để phiên âm và biểu đạt càng đúng tiếng Việt chừng nào càng tốt chừng nấy; tuy nhiên, không phải vì vậy mà hiểu lầm những dấu ký hiệu phiên âm, còn gọi là dấu ký âm của tiếng Việt là những mẫu tự rồi dùng chúng để thay cho mẫu tự với cái biện luận hàm hồ là chúng có thể rút ngắn, tiết kiệm nét chữ viết!

BH đã đề xuất cải tiến bảng mẫu tự và chính tả tiếng Việt, BH cho biết rằng trải qua gần một thế kỷ, đến nay chữ quốc ngữ ở Việt Nam đã bộc lộ nhiều điểm bất hợp lý, nên cần phải cải tiến để giản tiện, dễ nhớ, dễ sử dụng, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm bút-giấy-mực. BH đã biện luận những điểm bất hợp lý là: “Hiện tại, chúng ta sử dụng 2, 3 mẫu tự để biểu đạt một âm vị phụ âm đứng đầu. Ví dụ c, q, k trong các chữ “cuốc, quốc, ca, kali”; tr, ch trong các chữ “tra, cha”; s, x trong các chữ “sa, xa” v.v… Bên cạnh đó, lại dùng 2 chữ cái ghép lại để biểu đạt âm vị của một số phụ âm đứng cuối vần như ch, ng, nh trong các chữ “mách, ông, tanh”, v.v…” Vì vậy BH đề nghị bỏ chữ “đ” ra khỏi bảng mẫu tự tiếng Việt hiện tại và bổ sung thêm một số chữ cái tiếng Latinh như “f, j, w, z” và thay đổi giá trị âm vị của 11 chữ cái hiện có trong bảng mẫu tự tiếng Việt cụ thể là “c” thay thế “ch, tr”; “d” thay thế “đ”; “g” thay thế “g, gh”; “f” thay thế “ph”; “k” thay thế “c, q, k”; q thay thế ng, ngh; s thay thế s, x; x thay thế kh; w thay thế th; z thay thế  d, gi, r. Vì âm “nhờ” của chữ cái “nh” chưa có ký tự, hay còn gọi là dấu ký âm, mới để thay thế nên BH đề nghị tạm thời dùng ký tự ghép n’ để biểu đạt.  Hầu như các ngôn ngữ trên thế giới không có chữ cái nào là n’ (n phẩy lửng) trong khi tiếng Việt có chữ cái phụ âm “nh” ở đầu tiếng và ở cuối tiếng như trong chữ “nhanh”.

Chữ quốc ngữ Việt cải tiến của Bùi Hiền chỉ dựa trên giọng nói của riêng thủ đô Hà Nội cả về âm vị cơ bản và 6 thanh điệu tiêu chuẩn (sắc, huyền, nặng, hỏi, ngã, bằng); nguyên tắc là mỗi chữ chỉ biểu đạt một âm vị, và mỗi âm vị chỉ có một chữ cái tương ứng biểu đạt. Như vậy chữ quốc ngữ cải tiến của BH không biểu đạt được cả nước bao gồm giọng nói của người Sài Gòn, Miền Tây Hậu Giang, Miền Trung Quảng Nam - Đà Nẳng - Huế.  Ngôn ngữ của một quốc gia cần phải có tính đa dạng phong phú của các địa phương tiêu biểu, chứ không riêng giọng nói ở thủ đô; trong khi đó giọng nói thủ đô Hà Nội hiện nay rõ ràng chưa phải là chuẩn mực cho cả nước học nói theo và còn nhiều sai sót.

Một cách khách quan và cụ thể chúng ta hãy xem xét những đề xuất cải tiến chữ quốc ngữ Việt của Bùi Hiền như sau:

Không thể dùng chữ “d” thay chữ “đ”; vì “da” khác với “đa”, “do” khác với “đo”, “di” khác với “đi”, v.v…và cách phát âm hai chữ này hoàn toàn khác nhau.

Không thể dùng chữ “c” thay chữ “ch”, “tr”; vì “chờ” khác với “trờ”, “chữ” khác với “trữ”, “chung” khác với “trung”,v.v... Cách phát âm chuẩn của “ch” với “tr” hoàn toàn khác nhau; nếu phát âm “ch” và “tr” giống nhau như một số đông người Hà Nội hiện nay nói không phân biệt được “ch” và “tr” thì rõ ràng họ đã phát âm sai. Có một phát hiện ở đây là Bùi Hiền đã “ăn cắp” dấu ký âm “c” của một học giả và là một nhà làm tự điển Việt – Anh và tự điển Anh - Việt có tên NGUYỄN VĂN KHÔN ở Miền Nam VNCH thời kỳ mấy chục năm về trước.  Trước năm 1975 Tiền Bối Nguyễn Văn Khôn đã dùng dấu ký âm “c” để phiên âm mẫu tự kép “ch”, trong các chữ “cha chú, chế, chi, chủ, v.v…” được phiên âm là “ca cú, cé, ci, củ”

Không thể dùng chữ “g” thay chữ “g”, “gh”; vì “gi” khác với “ghi”, v.v... Qui tắc viết chính tả tiếng Việt không được viết “gê” mà phải là “ghê”, không được viết “ge” mà phải là “ghe”; cũng như không được viết “gha”, “ghu”, “ghư” mà phải là “ga”, “gu”, “gư”, v.v…

Không thể dùng chữ “s” thay chữ “s”, “x”; vì “sương” khác với “xương”, “sung” khác với “xung”, “sô” khác với “xô”, v.v... Cách phát âm chuẩn của “s” với “x” hoàn toàn khác nhau; nếu phát âm giống nhau thì rõ ràng phát âm sai.  Hiện tại có một số rất đông người Hà Nội phát âm không phân biệt “s” với “x” một cách rất tự nhiên đáng ngạc nhiên!

Không thể dùng “x” thay chữ “kh”; vì “xung” khác với “khung”, “xông” khác với “không”, v.v... Cũng có một phát hiện ở đây là Bùi Hiền đã “ăn cắp” dấu ký âm “x” của một học giả và là một nhà làm tự điển Việt – Anh và tự điển Anh - Việt có tên NGUYỄN VĂN KHÔN ở Miền Nam VNCH thời kỳ mấy chục năm về trước. Trước năm 1975 Tiền Bối Nguyễn Văn Khôn đã dùng dấu ký âm “x” để phiên âm mẫu tự “kh”, trong các chữ “kha khá, khế, khi, khô, khu, v.v…” được phiên âm là “xa xá, xé, xi, xo, xu”

Không thể dùng “z” thay chữ “d”, “gi”, “r”; vì “dông”, “giông”, “rông” được phát âm chuẩn hoàn toàn khác nhau; nếu phát âm giống nhau thì rõ ràng phát âm sai. Ở đây một lần nữa nhắc tới người Hà Nội trong việc phát âm cẩu thả, không chuẩn, không rõ, không phân biệt các âm của “d”, “gi”, “r” một cách đáng tiếc!

Không thể dùng “k” thay chữ “c”, “q”, “k”; vì qui tắc viết chính tả và phát âm chuẩn của “cuốc” khác với “quốc”; hơn nữa “k” khi ghép với “h” để thành chữ cái phụ âm kép “kh” ở đầu một chữ thì phải phát âm rất khác với “k”; như trong các chữ “kê” và “khê”, “cô” và “khô”, “ki” và “qui” và “khi”.  Cách phát âm chuẩn và qui tắc viết chính tả của những chữ này hoàn toàn khác nhau, nếu gọp chung lại để thay thế bằng một mẫu tự “k” đúng là một chuyện phá bỏ qui tắc chính tả một cách không thông minh.

Không thể dùng chữ cái “q” thay chữ cái phụ âm kép “ng”, “ngh”; vì mẫu tự “q” không có ở cuối hay ở đầu của một chữ trong tiếng Việt. Nếu dùng một chữ cái “q” để thay thế “ng” và “ngh” trong chữ “nghe ngóng” để trở thành “qe qóq” thì đúng là quái đản lập dị.  Qui tắc viết chính tả tiếng Việt chữ “ng” ở đầu chữ được viết với “a, o, ô, u, ư” thành những chữ “nga”, “ngo”, “ngô”, “ngu”, “ngư”. Chữ “ngh” ở đầu chữ được viết với “i, y, e, ê” thành những chữ “nghi”, “nghy”, “nghe”, “nghê”. Như vậy theo đề xuất của BH thay chữ “ng”, “ngh” bằng một chữ “q” thì phải bỏ qui tắc viết chính tả rất hoàn chỉnh của tiếng Việt!  Đúng là một đề nghị rất sai trái và ngu xuẩn không thể chấp nhận được!

Không thể dùng “f” thay chữ cái phụ âm kép “ph”, vì đây là một dấu ký âm. Hơn nữa “f” là một dấu ký âm trong công trình tự điển của Tiền Bối Nguyễn Văn Khôn ở thời kỳ Miền Nam VNCH mấy chục năm trước 1975.  Thí dụ các chữ “pha, phải, phê, phi, phu, v.v…”được phiên âm “fa, fải, fe, fi, fu”

Không thể dùng chữ cái “w” thay cho “th”, vì “w” hoàn toàn xa lạ với tiếng Việt và cách phát âm của “w” gần giống với một bán nguyên âm của các chữ “oa, oai, oe, oan, qua, quai, que, quan, v.v…” trong khi cách phát âm của “th” là một phụ âm khi phát âm lưỡi phải chạm vào răng trên, vì vậy “w” và “th”, một là bán nguyên âm và một là phụ âm, không tương đồng thì không thể dùng thay thế cho nhau. Rất rõ ràng là chữ cái “w” có trong chữ “wong” của tiếng Trung Quốc.  Mẫu tự “w” không nằm trong bảng chữ cái và cách phát âm của tiếng Việt, nhưng trong tiếng Anh, Pháp, Tàu thì có chữ cái “w”. 

Hoa Văn cũ hay chữ Tàu truyền thống không thay đổi nhưng khó học, khó nhớ, nên Trung Quốc chỉ cải tiến bổ sung một hệ thống Hoa Văn mới được đơn giản hoá bằng những mẫu tự ít nét chữ viết.  Để cho học sinh Trung Quốc và người nước ngoài dễ học loại tiếng Tàu mới này; Trung Quốc cũng đã tạo ra một loại tiếng Tàu mới viết bằng những mẫu tự Latinh ABC theo cách phiên âm của chữ Tàu để học nói nhanh chóng. Thí dụ:

Ch “dào” nghĩa là “đáo, tới”; và “dāo” nghĩa là “đao, cây dao”. Nhưng tiếng Trung Quốc không có đầy đủ dấu giọng hay dấu âm tiết.  Có một đặc điểm khác biệt lớn giữa tiếng Việt và tiếng Trung Quốc là trong khi tiếng Việt có đầy đủ sáu “dấu giọng – accent marks” (sắc, huyền, nặng, hỏi, ngã, bằng) còn tiếng Trung Quốc thì không có đủ.  Khi nghe một người Việt nói tiếng Việt có những âm tiết khác nhau khiến cho ngữ điệu tiếng Việt líu lo như nghe chim hót.

Hơn nữa tiếng Việt cũng như tiếng Trung Quốc là tiếng đơn âm, mỗi chữ là một âm có một nghĩa riêng biệt và có đặc tính ghép chữ; khi ghép 2 hoặc 3 chữ lại với nhau thành 1 chữ mới với một nghĩa mới riêng biệt.

Thí dụ Ch nghĩa là “đàn bà” và nghĩa là “trẻ con”.  Khi ghép hai chữ này lại với nhau, trở thành một chữ …và có nghĩa là “tốt”.  Như vậy “đàn bà” + “trẻ con” = “tốt” trong tiếng Trung Quốc. 

Trong tiếng Việt chữ “phá” được ghép với các chữ “án, cửa, đám, gia, giới, hoại, kỷ lục, trật tự, v.v…” thành những chữ mới có nghĩa mới khác nhau “phá án, phá cửa, phá đám, phá gia, phá giới, phá hoại, phá kỷ lục, phá trật tự”

Hiện nay rất đông người Việt có tệ nạn nói tắt, viết tắt trong tiếng Việt; điều này làm tiếng Việt trở nên kỳ cục, nghèo nàn trên phương diện nói và viết. Thí dụ: như chữ “bác” có thể ghép với các chữ để thành “bác sĩ”, “bác học”, “bác vật”, “bác Hồ”, “bác ái”, “bác nông dân”, “bác tiều phu”, uyên bác”, “bác cổ”, “bác nhã”, “bác án”, “bác đơn”, bác bỏ”, “bác tạp”, v.v…. Với bao nhiêu chữ ghép với “bác”, vậy nếu nói tắt hay viết tắt “bác sĩ” chỉ bằng một chữ “bác” thì phải hiểu thế nào, “bác sĩ” hay “bác Hồ”?  Chúng ta không thể bắt chước theo tiếng Anh, một thứ tiếng đa âm trong một chữ dài nên người ta có khuynh hướng nói tắt cho gọn; như chữ “doctor” được nói tắt là “doc”; “favorite” nói tắt là “fav”, nhưng khi viết phải viết nguyên chữ. Việc nói hay viết rút ngắn tiếng Việt không đúng cách, không đúng chữ, không đúng ngữ cảnh chỉ làm nghèo tiếng Việt và khiến tiếng Việt trở nên kệch cỡm.                                                    

Để nâng tiếng Việt lên ngang tầm một ngôn ngữ quốc tế như tiếng Anh, tiếng Pháp, đã có những cố gắng tạo ra và giới thiệu với các giới ngôn ngữ học quốc tế một hệ thống dấu ký hiệu phiên âm quốc tế - International Phonetic Alphabet (IPA) hoàn toàn dùng một bảng dấu ký âm quốc tế đ biểu đạt cho tất cả chữ cái nguyên âm và chữ cái phụ âm của tiếng Việt; việc này cũng là nhắm vào mục đích giúp cho người nước ngoài dễ học và phát âm đúng tiêu chuẩn tiếng Việt. Vào năm 2005 đã có một cuốn sách dạy người nước ngoài học tiếng Việt được xuất bản và bán trên toàn thế giới, trên Amazon; trong cuốn sách này “SIMPLE VIETNAMESE FOR YOU” có một bảng dấu ký âm quốc tế IPA đi kèm với bảng mẫu tự tiếng Việt tương tự như bảng ký âm quốc tế IPA của tiếng Anh, tiếng Pháp.


Hoặc là vào Google tìm SIMPLE VIETNAMESE FOR YOU với Link Google https://www.amazon.com/Simple-Vietnamese-You-Nguyen-Thanh/dp/1419607111

Quả thật, trải qua thời gian hơn 400 năm tiếng Việt đã được hình thành, tu chỉnh, cải tiến và hệ thống hóa cho người dân Việt Nam có một loại chữ viết riêng, rất độc đáo, rất chính xác tương đồng với tiếng Việt nói; điểm quan trọng nhất là để dứt khoát tách ra khỏi bị ảnh hưởng nặng nề của hệ thống chữ Hán truyền thống của Trung Quốc hay chữ Hán Nôm.  Cho đến nay người Việt chắc chắn đã có được một kho tàng văn học đồ sộ và phong phú với rất nhiều bộ sách quý, bộ tài liệu giá trị, bộ sách lịch sử, địa lý, khoa học, tác phẩm văn chương, thi ca, triết học, lun lý, đạo đức, tu từ học, ca dao tục ngữ và truyện cổ tích.

Cho đến thời kỳ Tự Lực Văn Đoàn kéo dài tới hiện tại, tiếng Việt đã ổn định hình thức và nội dung; những qui tắc của cách viết và cách học tiếng Việt như hiện tại đã rất vững chắc không cần những thay đổi mà chúng có thể làm nghèo tiếng Việt và gây xáo trộn trong cách viết và cách học tiếng Việt của người Việt trong nước và ở hải ngoại, cũng như gây khó khăn cho người ngoại quốc muốn học tiếng Việt.  Chúng ta hãy tự hỏi nếu có những thay đổi, núp dưới chiêu bài cải tiến, trong tiếng Việt như vậy thì chúng mang lại lợi ích gì trong thực tế của nước Việt Nam?  

Bây giờ toàn thể người dân Việt Nam phải cảnh giác đề phòng vì đây có thể là âm mưu của Tàu Cộng muốn phá hoại tiếng Việt, làm cho thế hệ tương lai của Việt Nam không th đọc được chữ Việt, không hiểu được tư tưởng và đạo đức của người Việt Nam.  Một điều quan trọng nhất là thế hệ tương lai Việt Nam sẽ không biết được lịch s của nước Việt Nam, và lúc đó trở nên lớp người mất nguồn gốc ở ngay quê hương của mình.  Rồi Tàu Cộng sẽ đồng hoá người Việt Nam rất dễ dàng.

Người Việt Nam chúng ta luôn luôn ghi nhớ rằng TIẾNG VIỆT CÒN, NGƯỜI VIỆT CÒN. TIẾNG VIỆT MẤT, NGƯỜI VIỆT MẤT

Tóm lại, đừng làm nghèo tiếng Việt; ngược lại, phải làm cho tiếng Việt ngày càng nhuận sắc và phong phú hơn.  Cho nên những đề xuất cải tiến của Bùi Hiền đã rất viễn vông, không thực tế, không thích hợp với tình hình của chữ quốc ngữ Việt hiện tại, và Bùi Hiền đã không đưa ra được một lý do chính đáng để cải tiến chữ Việt.  Hơn nữa BH không có sáng kiến gì cả, vì BH đã ăn cắp vài dấu ký âm trong công trình tự điển của Tiền Bối Nguyễn Văn Khôn, bằng chứng như đã nêu trên. Trong khi tiếng Việt đã là một hệ thống chữ viết ký âm cố gắng biểu đạt được chính xác cách nói, cách viết của người Việt trong cả nước.  Như vậy có thể khẳng định rằng tiếng Việt là một hệ thống ngôn ngữ hoàn chỉnh đã trải qua hơn 400 năm từng được tu chỉnh, cải tiến, và hệ thống hoá. Tiếng Việt sẽ có cơ hội tốt để trở thành một ngôn ngữ quốc tế như tiếng Anh, tiếng Pháp.

Cái quan trọng và thiết yếu nhất là nước Việt Nam cần cải cách chính trị, vì trước nhất phải cải cách chính trị là tiếp theo đó mọi việc cần thiết cho cuộc sống của toàn thể người dân Việt sẽ tự động cải cách theo cho thích hợp với chính thể mới của nước Việt Nam./.

Nguyễn Thành-Trí - Sài Gòn, Chúa Nhật 3/12/2017